Đỉnh đèo ngập nắng

Chẳng phải như ta vẫn thường nói, tài năng cũng như nhan sắc hay tuổi trẻ, chỉ một thuở nở rộ, tưng bừng. Như đỉnh cao sáng tạo, như cái đẹp độ thanh xuân, như lúc sung sức thời trai trẻ của đời người. Mùa hạ một thuở, nắng lúc nào cũng chan hòa.

Trên đỉnh đèo nắng vẫn còn rực rỡ, mà ta đã ở dưới chân đèo.

Một cõi điên rực rỡ

Vâng. Đấy là cõi Bùi Giáng. Và cũng là chữ của ông, như trong tiểu sử tự thuật tự ông viết:

“1969: bắt đầu điên rực rỡ”.

Để chu du trong cõi Bùi Giáng, có thể người ta không chỉ mất thời gian bằng một đời người. Để viết về thơ ông/ông cũng khó viết trong mấy dòng cho đủ. Nhưng hôm nay mượn chính cách của ông khi viết về những người khác, đôi khi chỉ vài dòng. Nghĩ lại thì dài ngắn đáng kể gì, viết cái gì mới là đáng kể.

Bởi ngắn ngủi không có nghĩa là không trọn vẹn. Mà dài dòng đâu phải đã là tận hết. Và dù có không trọn vẹn thì cũng không phải là đã hết. Bởi còn có nối dài, còn có cộng thêm, còn có nhiều lời sau này nữa.

Những điều không nói ra chẳng phải là những điều đáng tiếc hay sao?

***

Về con người Bùi Giáng, con người bản thể, con người vật chất thông thường, chỉ có một câu hỏi: Bùi Giáng có điên không?

Thanh Tâm Tuyền nói, “Bùi Giáng không điên. Ông là một nhà thơ sáng suốt, cực kỳ.”

Yên Cơ viết, “… tất cả những ‘cơn điên’ ấy của Bùi Giáng chứng minh sự sáng suốt Bùi Giáng không điên. Không điên vì ông chỉ đẩy đến cùng trạng thái hiện sinh, chứng nghiệm ý thức trần trụi về bản thể…”

Còn Bùi Giáng bảo, “Hãy để yên cho tôi điên tôi dại.”

Còn ta bảo, với những kẻ phàm trần, những kẻ tự nhận mình là tỉnh, thì Bùi Giáng điên quá đi rồi. Điên bởi muốn mọi thứ trong đời phải tận cùng, tận hiện, phải phá tung rào dậu, tường ngăn, để được nói, được cười, được làm những gì mà “con người xã hội” bảo rằng ta không thể.

Và bởi cái điên ấy, Bùi Giáng đã mở ra một cõi thơ “bát ngát”.

***

Còn thơ của Bùi Giáng thì sao?

Bùi Giáng bảo, “Đừng có bàn đến thơ tôi.”

Thanh Tâm Tuyền đã tóm gọn lại trong một câu thôi, “Chúng ta hãy chịu chói lọi trong tan nát giữa trận đồ của Bùi Giáng.”

Bùi Giáng tự cho thơ mình là “chuồn chuồn châu chấu”, “bay nhẹ vi vu quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn.”

Yên Cơ đã nhận xét rất tinh tế rằng, “Bùi Giáng có những câu thơ rất cao, rất tĩnh, rất sâu, thanh thản, gợi đến hư vô trong một không gian lãng mạn trữ tình, ít thấy xuất hiện trong thơ Việt.”

Nhưng cũng chính Yên Cơ bảo, “… bi kịch của Bùi Giáng là ông lặp lại mình. Trong gần nửa thế kỷ làm thơ, Bùi Giáng để lại hàng ngàn bài, có những câu thơ tuyệt hay, nhưng chính sự lặp lại những khám phá ngôn ngữ buổi đầu khiến thơ ông trở thành khuôn sáo, về mặt từ ngữ cũng như tư tưởng.”

Ta không định trần tình cho Bùi Giáng, ông không cần bất cứ lời trần tình nào, cũng chẳng cần ai phải đứng ra bảo ông đang định nói này hay nọ; chỉ mượn ý của Thanh Tâm Tuyền nói đại ý, thơ của Bùi Giáng không phải là nhiều bài, mà chỉ là một bài dài ngắt ra thành nhiều đoạn mà thôi. Nói như thế, chẳng phải như G. Marquez cũng từng nói đại loại, mỗi nhà văn chỉ viết một cuốn tiểu thuyết trong đời… Bùi Giáng cũng thế, chỉ viết một bài, nên nửa thế kỷ làm thơ, vẫn những ngôn ngữ ấy, vẫn tư tưởng ấy, một sự nhất quán đến thấu suốt đấy chứ.

Mà ta bảo, nói Bùi Giáng làm thơ có thể cũng đã phản ánh sai cái sự thật của ngôn từ Bùi Giáng bung ra, bởi Bùi Giáng  bảo, “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng lời thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một  trận mưa rào, một cơn gió thu…” Nên có lẽ,  Bùi  Giáng chỉ đang giữ lại cho riêng mình những khoảnh khắc thời gian, những gái đẹp, những gió, những mưa…

Em về giũ áo mù sa

Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

***

Bùi Giáng bảo, “Sự ngu si đã tràn lan khắp chốn, thì kẻ hiểu thơ đành phải tuân theo khắp chốn để mở trận ngu si.”

Ta chưa hiểu thơ để mở trận ngu si, nhưng trước mùa xuân này, đúng mùa xuân này, đọc lại Bùi Giáng, thấy Bùi Giáng đã tung ra cả mưa, gió, cả chớp bể lẫn mưa nguồn trong thơ, gói gọn cả khổ đau, vui sướng, mà thậm chí cả đời người chỉ trong hai câu thơ thôi, mà có lẽ ngoài ông ra chẳng ai làm được:

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau.

+ Toàn bộ thơ trong bài là của Bùi Giáng;

+ Trích dẫn các bình luận của Thanh Tâm Tuyền, Yên Cơ, và lời/thơ của Bùi Giáng từ tập Đười ươi chân kinh, Nhã Nam, 2012.

Đàn ông, đàn bà…

Vì từ mấy hôm nay hòm thư tràn ngập thư rác: quảng cáo sản phẩm mới, giảm giá, tặng quà… nhân dịp ngày phụ nữ, vừa xóa vừa nghĩ xem, ngày ấy dành cho đàn ông hay đàn bà nhỉ? Cũng mới nhớ ra, mấy nay đường đông quá thể, mỗi chiều về chen chúc nhau, người ta hối hả mua hoa mua quà, hối hả dẫn nhau đi ăn đi uống, hối hả sống như thể sang năm không còn ngày 8/3 nữa.

Mà Bắc Việt đang mưa phùn, trời đổ lạnh cả tuần nay.

Vẫn biết đấy là trò vè thôi, một màn nho nhỏ trong vô vàn màn lớn màn nhỏ của cái sân khấu đời vĩ đại này, nhưng nếu không ai tham gia, không ai tung hứng, thì tấm màn còn biết trùng khép cho ai?

Một cơ hội để bán hàng, để tiêu dùng, để đàn bà bảo nhau yêu quý bản thân, để đàn ông bảo nhau thôi thì cho nó xong…

Thật ra thì thấy người đàn ông ôm hoa tặng vợ, mua những món quà ý nghĩa, viết những tấm thiệp mùi mẫn,… đều chẳng đẹp bằng cái người đàn ông xách túi tăm, ôm làn, ôm phích… ở bệnh viện phụ sản.

Mỗi lần đi qua đều chứng kiến ít nhiều những hình ảnh đó, có người mặt mũi bơ phờ, râu ria lởm chởm đang ngồi đốt thuốc căng thẳng; có người mặt mũi dữ dằn mà tay xách nách mang nào bỉm nào tã hớn hở đi lại phăm phăm; có người quần xắn móng lợn chạy đôn chạy đáo; cũng có người ôm bó hoa to, lại cũng có người chỉ xách cặp lồng… Tất cả đều đang chăm sóc người phụ nữ của mình theo một cách nào đó, cách của riêng họ.

Và chẳng biết khung cảnh rõ ràng chi tiết thế nào, nhưng những người đàn ông thức đêm chờ vợ trong cơn sinh nở, đứng trò chuyện rôm rả với nhau ở khu vực hành lang, chia sẻ với nhau cả niềm vui lẫn nỗi sợ, bất kể những ngày nóng điên cuồng hay lạnh tê tái, là những ảnh đẹp. Đẹp nhất cho đàn bà.

Đen và trắng

Hai cuốn sách thật tình cờ được đặt cạnh nhau như số mệnh, một sự tương đồng lạ kỳ, như hai nửa của một quả cầu, đúng hơn là như chiếc túi và mặt lộn trái của nó.

Những dải trắng trên nền đen[1] là câu chuyện của một người khác với những người khác, một người khác biết kể chuyện. Câu chuyện có thực, đau đớn, nghẹn ngào, và không thù hận (còn cay đắng thì tất nhiên, rất nhiều, nhưng không cay độc, và tuyệt vọng, dĩ nhiên.)

Còn Ba ơi mình đi đâu[2] là câu chuyện của người cha có hai đứa con khác những đứa trẻ khác – những đứa con không có khả năng kể chuyện, đi lại hay cảm nhận – người cha bất hạnh ấy kể câu chuyện của mình vừa cay đắng, vừa trào lộng, nhưng không than phiền, đơn giản là đau đớn.

Kỳ lạ chưa, lẽ ra cả hai đều có thể thét gào phẫn nộ, than phiền, oán trách… chứ không chỉ đau đớn lặng thầm, vừa tự trào lộng vừa tự vật lộn, để đi đến hết con đường.

***

Ông bố bất hạnh ấy đã kể về những đứa con của mình, đơn giản như người ta kể về cuộc sống. Nếu là những đứa con thành đạt, hẳn là người ta sẽ huênh hoang, hẳn là sẽ có sự kiện động trời nào đó, ví như hồi bé chúng nghịch ngợm kinh hoàng chẳng hạn. Còn đây là những đứa trẻ không như những người khác, chúng lặng lẽ, chúng ê a, chúng không lớn lên về tinh thần cũng như thể xác. Chúng là sự sống.

Cậu bé không như những người khác ấy bị coi là mồ côi, bị bỏ rơi, và sống trong cô nhi viện. Tay cậu không thể giúp gì, chân cậu không đi lại được. Nhưng cậu còn tiếng nói – để gọi to nếu cần giúp đỡ, hoặc đôi khi chỉ là để tự nói với mình; còn bộ răng – để nhai, để cắn, để cầm mọi thứ; và còn bộ não – để suy nghĩ, để tự an ủi mình, để nhớ và viết về tất cả. Cậu là sự sống.

***

Ông bố bất hạnh ấy hay trào lộng, nếu không, hẳn người ta sẽ phát điên. Ông bảo, ông và vợ chẳng phải quan tâm đến việc chọn cho con ngành văn chương hay lịch sử, đơn giản là không thể. Nhiều người (cả trong lẫn ngoài cuốn sách), hẳn đã cho rằng không nên như thế, phải u buồn hoặc phải yêu thương nghiêm chỉnh, hoặc giả là thế nào đó mà không phải là như thế.

Những đám người ấy không bao giờ có thể hiểu, người ta trào lộng, cay đắng mà vẫn có thể yêu thương, nếu không yêu thương thì sao người ta có thể chăm sóc, nuôi nấng và cùng chúng xuyên qua hết ngày này tháng khác? Những kẻ chưa từng biết đến nỗi đau ấy bao giờ.

Cậu bé không như những người khác ấy đã phẫn nộ, dù chỉ một lần trong đời, nhưng tôi yêu thích cái giây phút ấy, cái giây phút cậu gào thét lên tất cả những gì đang nghĩ, rằng “Tôi là thằng bé nhọ, còn các người là người Nga. Vậy thì hãy giết tôi đi và đừng có hành hạ tôi thêm nữa. Các người thậm chí tiếc tôi cả thuốc độc. Các người còn tồi hơn cả bọn phát xít. Bọn phát xít giết luôn người tàn tật, còn các người lăng nhục họ.”

Đám người xung quanh khiếp hãi, hoảng hồn, có thể sau đó sẽ tử tế hơn, với cậu, và những bạn bè của cậu. Hoặc sẽ không. Nhưng dẫu sao thì cũng biết, rằng cái đầu nhỏ bé ấy biết nghĩ. Và tử tế nhất là, có thể giết luôn cậu đi.

***

Như một mối đồng cảm lạ lùng, tôi hiểu trọn những điều ông ấy nói, ông ấy làm. Như việc trào lộng ấy, tôi cũng hay đem bản thân ra giễu cợt. Tôi vẫn bảo, tôi không phải lo lắng về việc cho con cái đi học chỗ nào, khám bệnh ở đâu, đối phó với chúng ra sao nếu vướng phải thói hư tật xấu; tôi miễn nhiễm hoàn toàn trước mối đe dọa bệnh tật, tuổi dậy thì, hay lo toan tài chính cho đám con cái của nhiều người đồng trang lứa khác, bởi tôi không có con. Được hỏi về những sách dạy con này nọ có hay không, tôi có thể trả lời ngay là không biết. Tôi chưa đến tuổi đọc sách ấy. Cũng như nhiều người đã nhìn ông bố ấy như thể ông đã hóa rồ, tôi cũng thường xuyên được đối xử như kể điên, bất thường, tâm thần phân liệt…

Cậu bé không như những người khác ấy đã chỉ ra chân tướng chính của chính tôi. Tôi sẽ giống như cái cô sinh viên đến chơi với cậu và bạn bè suốt mấy tháng ấy, đã nhận ra rằng họ thông minh, can đảm… hơn cả đám bạn bè ở trường đại học của cô. Nhưng họ không thể đến trường cùng cô, vì trường học chỉ dành cho những kẻ lành lặn, những kẻ bình thường. Cô gái ấy đã đứng khóc và hút thuốc, dưới trời mưa, có lẽ vì nhận ra cuộc sống đã không công bằng, (chính tạo hóa cũng có công bằng đâu), không đẹp đẽ như cô tưởng. Rồi sau đó, không bao giờ cô trở lại cô nhi viện nữa. Tôi còn không can đảm như cô gái ấy. Tôi sẽ bỏ chạy có thể ngay sau ngày đầu tiên, khi nhận ra tạo hóa không công bằng, không đợi đến khi thấy cuộc đời bất công.

***

Ông bố bất hạnh ấy bảo, ông không thích từ “tật nguyền”, càng không thích từ “bất thường”, nhất là khi chỉ trẻ con. Ông bảo, “Bình thường có nghĩa gì? Là như cần phải thế, như người ta lẽ phải thế, nghĩa là ở mức trung bình, tầm tầm.” Ông cũng bảo, “Tôi thích cách diễn đạt ‘không như những người khác’ hơn. Bởi không phải lúc nào tôi cũng thích những người khác.”

Tôi hay bối rối khi gặp những người khác này, tôi sợ, tôi tự coi họ “bất hạnh” hơn mình, và gọi họ là những người bất hạnh. Tôi đã nhầm, họ chỉ khác tôi, còn bất hạnh hay hạnh phúc không phụ thuộc vào việc ta có lành lặn đủ chân tay mắt mũi. Cách gọi của ông bố giúp tôi can đảm, cũng chỉnh lại thiên kiến trong tôi luôn coi những người khác mình là bất hạnh, và đối xử với họ nhu mì hơn. Tôi sẽ đối xử với họ như những người bình thường, cái ngưỡng bình thường chán ngắt ấy.

***

Cậu bé không như những người khác ấy ghét màu trắng – màu bệnh viện, màu trần nhà, màu bác sĩ – nhưng lại tha thiết với ánh sáng, ánh sáng của cuộc đời thực, ngoài đời sôi động kia, mà mãi cậu mới được tận mắt nhìn thấy. Thậm chí, khi đã có thể tự bò đi, cậu còn bò tận ra ngoài cổng khi trời mưa, hy vọng nước sẽ hắt vào vài giọt. Tôi hiểu, đấy là niềm khao khát được sống cuộc sống này, khí trời, ánh sáng, tiếng người, tất cả.

Trên cái nền đen nghiệt ngã của cuộc sống và/hay số phận, cả hai đã rọi được ánh sáng trên nền đen ấy, mà đúng hơn là đã phết đủ sắc màu lên đó, đã làm cho nhiều con người nhìn hiện thực đen tối khác đi, hoặc là thấy một bóng tối khác, còn tàn bạo hơn bóng tối của mình… Dẫu thế nào, sự sống cũng vươn lên từ đó.

***

Hôm nay, tôi muốn ánh sáng có màu khác đi.

Không phải là màu sáng trắng bình thường, mà là ánh sáng qua kính vạn hoa, có cả dải cầu vồng màu sắc.

Xuyên qua ánh sáng ấy, xuyên qua dải cầu vồng ấy, tôi sống cuộc sống này .

___________________

[1] Tập truyện của tác giả Ruben David Gonzalez Gallego; Phương Hoài dịch; TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2004.

[2] Truyện của Jean Louis Fournier; Phùng Hồng Minh dịch; Nhã Nam, 2009.

Sống như là tranh đấu

Trên báo đã đăng tin chi tiết về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Khoảng thời gian đã trôi qua gần bốn mươi năm và đã trở thành lịch sử giờ mới được ghi nhận vào lịch sử. Người ta đã chỉ mặt gọi đích danh kẻ thù, liệt kê những thiệt hại và tội ác.

Từ khi nào, người ta không dám gọi kẻ thù là kẻ thù? Đến khi nào, người ta mới dám đối mặt với nó?

Đất nước đã thừa những anh hùng, công trạng và chiến thắng. Thừa cả chiến tranh, đau khổ, nghèo nàn. Không, chúng ta không cổ xúy cho bất hòa và đổ máu, nhưng chúng ta vẫn phải đứng về phía sự thật và dũng cảm.

Mất bao lâu người ta mới hiểu ra, sau chiến tranh và đổ nát, sau những cuộc đấu tranh cam go, ác liệt, cái còn lại là cuộc đời. Không giống những cuộc đấu kia, cuộc đời bắt người ta phải sống và chết cùng với nó. Trong một nhịp điệu và tiết tấu của riêng nó, người ta không thể khiến nó nhanh lên hay chậm đi được.

Mất bao lâu người ta mới hiểu ra, làm anh hùng dễ hơn, chiến đấu cũng dễ hơn, là gây dựng và thành tựu. Người ta say sưa làm những thứ to nhất thế giới, choáng ngợp nhất hành tinh, mà quên là làm chổi quét nhà còn hữu ích hơn thế. Giá người ta đừng mất thời gian chiến đấu, đừng mải đua tranh để dẫn đầu, mà tập trung vào máy rửa bát, quét nhà, giặt giũ,… giải phóng con người và phụ nữ khỏi lao động cực nhọc thì chắc cuộc sống đã tốt đẹp hơn nhiều.

Người ta bảo, trong chuyến thăm Liên Xô năm 1959, Tổng thống Richard Nixon đã giới thiệu những thành tựu của người Mỹ với người dân Liên Xô qua việc trưng bày một căn hộ của người dân bình thường ở Mỹ, không những có hai phòng ngủ nó còn được trang bị tủ lạnh, ti vi, máy giặt, máy sấy quần áo; một trong những thành tựu đó là máy vắt chanh điện. Khrushchev đã gầm gào lên mà bảo rằng, đấy không phải là thành tựu. Khi Nixon nói đại ý rằng tất cả những thứ giúp giải phóng sức lao động của phụ nữ thì đều được coi là thành tựu. Khrushchev bảo, CNXH không coi phụ nữ là công nhân như ở Mỹ. Có lẽ giống thế nên ở đây, phụ nữ không phải là đối tượng bóc lột, mà là tất cả: lau nhà, rửa chén, giặt giũ, trông trẻ, nấu ăn, đi chợ, tình dục…

Chiến đấu làm người ta quên mất đời sống bình thường, người ta quên mất là để sống người ta phải đi để đến cuối hành trình đời người nhiều dặm chứ không phải là chạy thẳng tới đích. Chiến đấu cũng làm người ta quên mất yêu thương, cô đơn, tự do và tận hưởng; quên mất rằng gieo trồng và gặt hái nhọc nhằn và bền bỉ hơn nhắm súng trúng đích.

Như Ruben David Gonzalez Gallego đã nói, “Tôi tin rằng suốt đời khâu những con gấu và thỏ bông còn khó hơn nhiều một lần tự cứa cổ. Tôi tin, trên cán cân xã hội, niềm vui sướng trẻ thơ khi có đồ chơi mới sẽ nặng hơn bất cứ chiến công quân sự nào.”

Hay như Lưu Quang Vũ đã tỉnh táo hơn chúng ta, để lựa chọn:

Tôi chọn bài ca của mùa hạ nắng

Tôi chọn bài ca của người gieo hạt

Hôm nay là  mầm mai sẽ thành cây…

GIỮA HAI MIỀN ÂM NHẠC

Bài này ban đầu định lấy tên là Giữa âm nhạc và tưởng tượng, nói về ca từ trong loại hình âm nhạc truyền thống mà tiêu biểu là hát chèo. Nhưng sau thấy nên so sánh hai loại hình sân khấu truyền thống là Cải lương và Chèo thì thú vị hơn, và đem lại điều gì đó cho những người vẫn thờ ơ với âm nhạc truyền thống; còn cái kia thì để dịp khác…

Về thời điểm và nguồn gốc ra đời, Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10, được phát triển từ đồng bằng châu thổ sông Hồng. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Còn Cải lương một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ. Đây là loại hình sân khấu rất trẻ so với Chèo, theo các nhà nghiên cứu thì thời gian ra đời của Cải lương vào khoảng đầu thế kỷ 20, những năm từ 1916 tới 1918.

Ở đây, chúng tôi không tập trung vào nguồn gốc hay thời điểm chính xác mà chúng tôi chỉ muốn đưa ra những thông tin phổ biến nhất để soi chiếu và làm rõ những điểm tương đồng khá thú vị giữa hai loại hình này mà thôi.

Mặc dù ra đời sớm và tồn tại lâu dài nhưng Chèo có xuất phát từ ảnh hưởng của nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc, từ đó phát triển qua thời gian, tới thế kỷ XVIII đã phát triển rực rỡ và có thể nói là hoàn toàn thuần Việt, mang đặc thù của nền văn minh lúa nước.

Còn với cải lương lại phát triển thành đủ loại từ tuồng Tàu tới tuồng ta, có cả tuồng Hồ Quảng… Giáo sư Trần Văn Khê có nhận xét rất hóm hỉnh là “Sự dung nạp không thành kiến của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam Bộ”.

Cả hai loại hình sân khấu này đều được gọi là ca kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.

Loại hình sân khấu Chèo ra đời trước và đã hình thành được cho mình những “trầm tích”, đó là những vở diễn nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên,… Sau này, thì khai thác một số tích truyện như Tống Trân – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng để đưa lên sân khấu. Về điểm này, Cải lương cũng vậy, ban đầu lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, sau dựa trên các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập,…

Điểm tương đồng thú vị nữa của hai loại hình này là tính quần chúng. Chèo gắn liền với hội hè và tầng lớp bình dân, sân khấu chèo dân gian đơn giản như sân đình, hay chiếu chèo… Còn sân khấu cải lương sử dụng tối đa vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ, các nhóm đờn ca được thành lập ban đầu cốt để tiêu khiển, hay phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn… chứ chưa hề biểu diễn trên sân khấu.

Về nhạc cụ cả hai loại hình này đều sử dụng chủ yếu là  những nhạc cụ dân gian như: đàn nguyệt, đàn nhị, sáo, trống,…

[Viết đến đây thì hết pin, bao giờ sạc được thì viết tiếp…]

Biên tập viên tồi và nhà xuất bản hèn nhát

Tôi xin nói luôn, hai điều này không phải một mệnh đề, tức là có cái nọ mới có cái kia, hoặc cái nọ tác động đến cái kia, hoặc là cái nọ ở trong cái kia… Tóm lại là không liên quan gì đến nhau cả. Kiểu như trời đẹp chan hòa còn mình thì thèm ăn một miếng bít-tết thật ngon, thật mềm, nóng hổi và có khoai tây nghiền rất mịn ấy.

Hôm nọ đọc blog NL có nói tới “biên tập viên hạng bét”, khi không hề động tay làm việc của người biên tập, chỉ có gom các nội dung tác giả viết vào một mớ rồi in ra. Đây đúng là động tác thường thấy của các biên tập viên hiện nay – thật không hiểu sao lại can đảm xưng danh là biên tập viên chứ – tôi thật lòng mà nói, họ không làm gì cho công tác biên tập cả, nên gọi là biên tập viên tồi cũng không đúng cho lắm.

Thậm chí, tôi biết có người khi bị chê là sách làm dở, có bảo, tác giả viết dở quá nên đứng làm biên tập viên cũng xấu hổ. Tôi không nghĩ thế, cái này giống như việc phê bình, có bài phê bình hay về một tác phẩm dở và có bài phê bình dở về một tác phẩm hay. Biên tập viên làm tốt phần việc của mình, từ câu chữ đến bố cục, chưa kể việc góp ý với tác giả, cắt chỗ này, xén chỗ kia,… Một cuốn sách như vậy là biên tập tốt còn nội dung hay dở thì đúng là tài năng của tác giả. Còn có những cuốn lẽ ra có thể hay hơn, rốt cuộc biên tập viên tồi đã làm hỏng nó, tính ra gọi là “biên tập viên hạng bét” hóa ra còn là đỡ tồi nhất, tức là không làm gì cả, vì những kẻ “tỏ ra nguy hiểm” còn cắt xén bừa bãi, thêm thắt lung tung, đảo lộn mọi thứ thì còn tệ hơn nhiều, kiểu như thơ haiku thì thêm vào cho nó vần vò ấy, rõ ý ấy.

***

Cái này bỏ xó quá lâu giờ mới đem ra viết tiếp, kể cũng có cái hay, vì vừa rồi được/phải/bị tham dự một khóa học gọi là khóa “Bồi dưỡng kiến thức pháp luật xuất bản, nghiệp vụ biên tập”, mà người dạy nghiệp vụ biên tập chỉ toàn dạy người ta sửa mo-rát; còn kiến thức pháp luật thì thay vì cho người ta thấy cái triển vọng “sáng lòa” của xuất bản tư nhân, cái quyền của người làm xuất bản, thì lại dạy người ta cách đối phó với đám xuất bản tư nhân liều lĩnh, cách bới lông tìm vết, vân vân và vân vân.

Và thêm một vụ cuối năm xôm tụ liên quan đến Petrus Ký. Mình sẽ không nói gì về cuốn sách này, con người này, để tránh những liên hệ không đáng có cũng như những đánh giá chủ quan, thiển cận của cá nhân mình.

Mình chỉ thấy thật khôi hài, khi những chó săn văn hóa đến giờ vẫn còn đắc dụng. Trước đây, chúng còn lập ra cả một danh mục những “tên biệt kích văn hóa”, thì giờ chắc  chúng cũng lập ra những thứ tương tự như vậy chứ, về những tác giả nguy hiểm, những nhân vật đáng ngờ, và những tác phẩm độc hại?

Chợt nhớ đến nhận xét của Petrus Ký trong cuốn sách kia, được Richard Cortambert ghi lại trong Impressions dʹun japonais en France suivies des impressions des Annamites en Europe (Nguyễn Vy Khanh phát hiện và dịch), vềđám quan lại An Nam, tính ra đến giờ vẫn đúng:

“Sự kiện tôi vừa báo hiệu là một trong những lý do chính của phần lớn những đau khổ người An Nam cam chịu. Các vị đại thần chỉ tâu lên vua những biến cố thuận lợi; họ chỉ tâu bàn với nhà vua những gì có thể làm hài lòng nhà vua. Do đó, dù đã được quy định trong luật pháp, các vị ấy vẫn giấu không trình với nhà vua những tai ương đã xảy ra, vẫn tránh tiết lộ những thất bại, những nạn đói khổ, mất mùa màng, và ngay cả những bệnh dịch. Tất cả những điều đó không thể tìm thấy trong các báo cáo thường niên mà nhà vua đã ra lệnh phải làm để nhà vua có thể biết đến những việc quốc gia đại sự. Các vị đại thần tổng đốc thường hay sợ bóng sợ vía, đa nghi, chỉ biết tuân thủ các truyền thống thảm hại một cách nô lệ; do đó con muỗi thường bị họ thanh lọc kỹ càng, nhưng họ lại phải (cay đắng) nuốt trọn những con voi (!).”