Những cơn giông mùa hè (ii)

Nắng lắm thì mưa nhiều, sau những ngày nắng đổ lửa sẽ có những ngày mưa. Thỉnh thoảng tích tụ thành một cơn mưa lớn, kèm gió to, sấm chớp đì đùng.

Lại mùa hè và lại những cơn giông.

Giống như con người, sau bao kiềm chế, giữ gìn, sẽ đến lúc bùng ra thành cơn giận dữ phát điên. Nhất là sau những ngày nóng nực thế này.

Tôi có thể học như trời, bùng lên một cơn giông khủng khiếp. Những trận gió ào ào cuốn bao nhiêu bụi cát, rác rưởi bay mù mịt, vặt bao nhiêu hoa lá ra khỏi cành. Rồi sấm chớp, rồi mưa ào ào quất xuống. Điên cuồng, nạt nộ.

Nhưng sau cơn giông ấy? Cây cối tả tơi, đất đai cày xới, nhưng rồi lại mọc, lại xanh. Và trời, lại xanh như chưa từng trút giận.

Hay tôi học đất, nhẫn nại với cả nắng lẫn mưa, cho dù có gì đổ xuống, quất lên vẫn âm thầm hứng chịu. Rồi cây lại xanh, rồi hoa lại nở. Nhưng mà chắc là đau, buồn đến tan nát.

Tôi sợ cả cảnh tan tác sau giông bão lẫn cái vẻ tĩnh tại lặng câm vô cùng vô tận kia.

Advertisements

Bức ảnh (ii)

2-4082-1491449810.jpg

Bức ảnh trên là một bức ảnh đẹp, nếu để minh họa cho một cuộc tình.

(Tôi chưa bao giờ thích giọng hát của cô ca sĩ kia, và không biết người đàn ông đang ôm cô ấy là ai cả. Họ diễn hay đời thực, tôi không quan tâm, chỉ xét một bức ảnh thì với tôi nó đẹp!)

Người đàn bà đầy vẻ tin cậy, thả lỏng mình trong vòng tay người đàn ông, còn người đàn ông thì vừa mạnh mẽ vừa đam mê, một tay ghì chặt lấy người đàn bà còn tay kia vẫn cần điếu thuốc. Mọi thứ chìm trong khao khát.

***

Hôm nọ, đọc lại một cuốn sách cũ của Trang Hạ, ngay trang đầu tiên chị viết đại khái là như mọi cuốn sách khác của mình, chị tự viết cho mình lời mở đầu/giới thiệu, bởi chị đã chọn sự cô đơn trên văn đàn.

Dũng cảm thì phải cô đơn. Nhưng may mắn là có lẽ chị chỉ cô đơn trên văn đàn, còn trong cuộc sống thì luôn có gia đình, chồng con ở bên.

Nhớ có lần nói đùa với đồng nghiệp khi được hỏi một nữ tác giả nào đó có tài năng hay không, đã trả lời rằng hãy dùng đàn ông để đo, mà đúng ra là sự ghen tị của họ. Nếu họ tẩy chay, không thu nạp thì chứng tỏ cô ta tài năng thật, còn nếu họ hăng hái viết lời giới thiệu rồi review khắp nơi thì cô ta… xinh đẹp!

Nhớ đến tập Những đống lửa trên vịnh Tây Tử của Trang Hạ, một tập không hẳn là truyện mà như truyện. Trong đó có những truyện tôi đã đọc từ hồi còn trang evan, thuở Internet chưa phổ biến như bây giờ, đã in ra cho bạn bè cùng đọc. Đến giờ, tôi vẫn nhớ những đoạn trong “Chỗ ngồi vắng người”, tả về cây đậu mưa, về chỗ ngồi vắng người, về vịnh Tây Tử…

Nếu viết lời giới thiệu cho tập truyện đó, tôi sẽ viết vài dòng, ngắn gọn như cách viết của chị, vốn kiệm lời và sâu.

Rằng, nếu bạn cầm cuốn sách này lên thì bạn đã chọn nỗi buồn.

Cuộc đời con người ta nếu đã có đắn đo giữa đi và ở, giữa nổi loạn và cam chịu thì sẽ chẳng thiếu nỗi buồn.

Nhưng đó là nỗi buồn đẹp. Vâng, trong cuốn sách này, không chỉ cây, hoa, người, cảnh đều đẹp, mà đến cả nỗi buồn, nỗi cô đơn cũng đẹp.

Bởi cuộc đời này bao giờ chẳng đẹp, miễn là ta sống.

 

Bức ảnh

JN11

Trong vô số những bức ảnh chụp John và Yoko, tôi thích nhất bức này.

Người đàn ông cười hạnh phúc trong lòng người đàn bà mình yêu. Tôi đoán thế.

Ảnh chỉ là ảnh, ta chỉ có thể đoán, tưởng tượng ra tất cả những điều đằng sau.

Giống như đời, có những người biểu diễn tốt, luôn thể hiện được những mặt tốt đẹp nhất của mình ra bên ngoài. Có những người biểu diễn tồi, lúc nào cũng sai nhịp, lỗi bước, không thể hiện được gì ngoài sự vụng về.

Tôi là một bức ảnh tồi, còn hơn cả sự vụng về, tôi luôn thể hiện ra ngoài những điều xấu xí, một cái tôi ác tâm, một cái tôi tàn nhẫn. Người đời vội sống, không bỏ thời gian ra tìm hiểu phía sau bức ảnh là gì, họ sẽ gạt những tấm xấu xí vào thùng rác. Điều này cũng hợp lý thôi, nếu là họ, tôi cũng thế.

Rốt cuộc, ai cần biết sẽ biết, ai không cần biết, vĩnh viễn sẽ không biết.

Tất cả, chỉ là cái vỏ. Cái vỏ.

Trong lòng thành phố (v)

Điều làm tôi ngạc nhiên ở khoảng trong thành phố này không phải là đám người tự coi mình là dân thành phố gốc tụ bạ nhau ở các quán nước mỗi chiều để tính lô đề, đám đàn bà hút thuốc phì phèo từ sáng sớm ở các quán nước hay cái văn hóa làng xóm vẫn còn nguyên ở đám chó mèo chạy lung tung và đi bậy khắp nơi…

Mà là những dãy nhà lụp xụp, những ngôi nhà trọ tồi tàn – với những “chiếc giường” được xây bằng gạch chồng lên nhau, mỗi “giường” là một ô có đủ chỗ ngủ, một chiếc hòm và những vật dụng cá nhân; mỗi ô chỉ bằng một chiếc giường trong ký túc xá, ẩm ướt, tồi tàn, còn tệ hơn cả trại tập trung của Hitler.

Mà là những người lao động ngoại tỉnh từ khắp nơi tụ lại, người bán hàng rong, công nhân, người mua đồng nát,… Mỗi sáng, những ông bà già đeo trước ngực cái giỏ đeo đủ thứ: bật lửa, bông tăm, tăm, dây đeo chìa khóa, gương, lược… bắt đầu ngày làm việc của mình từ 7 giờ; những người bán rau củ thì đi sớm hơn nhiều, lúc đó họ đã gánh hoặc chở những sọt rau về đến ngõ, bắt đầu phân loại và gánh tỏa vào khắp ngõ ngách phố phường.

Mà là những cuộc điện thoại đêm khuya, sau một ngày làm việc vất vả. Có một cậu tuần nào cũng gọi cho một cô (tôi đoán thế), bảo, biết thế cứ “cưới mẹ nó đi” chứ đợi đến lúc đủ tiền thì đến bao giờ. Có hôm, có cậu gọi cho mẹ (tôi đoán thế), bảo mẹ cố thu xếp tiền trả đáo hạn cho con, cuối tháng con gửi tiền về; chắc bà mẹ hỏi làm lụng ăn uống thế nào, cậu bảo, ăn thì no, khách ăn không hết thì tụi con đun lại rồi ăn cho đỡ phí, việc thì từ 6 giờ sáng tới 10 giờ đêm, nhưng cũng không mệt quá đâu. Có đêm, có người mẹ nói chuyện điện thoại với con (không rõ gái hay trai), bảo sao không gọi cho mẹ ngay, mẹ nhớ quá, không biết cách nào gọi được; mẹ xuống Hà Nội rồi, đi rửa bát ở nhà hàng, ăn uống thì thoải mái, con không phải lo…

Tất cả những cuộc đời ấy, những mưu sinh ấy khiến những nghĩ ngợi của tôi thật nhàm tẻ.

Đấy chính là hơi thở của đời sống sôi sục buộc người ta phải bước cho dù đã mệt nhoài.

Đấy là sự sống, sự sống còn…

Đỉnh đèo ngập nắng

Chẳng phải như ta vẫn thường nói, tài năng cũng như nhan sắc hay tuổi trẻ, chỉ một thuở nở rộ, tưng bừng. Như đỉnh cao sáng tạo, như cái đẹp độ thanh xuân, như lúc sung sức thời trai trẻ của đời người. Mùa hạ một thuở, nắng lúc nào cũng chan hòa.

Trên đỉnh đèo nắng vẫn còn rực rỡ, mà ta đã ở dưới chân đèo.

Từ trang sách

Chợ đời còn họp mình tôi mua gì?

… nhắc tới kiến trúc của người An Nam, sự cẩu thả, tùy tiện, “bất cần lối sống thanh cao”, tất cả đã trở thành “đặc tính của người An Nam”, bởi “Đối với họ, [nhà cửa] chỉ là cái bếp và nơi trú chân khi không ra đồng.”

Có lẽ đến giờ vẫn đúng, dù đã trải qua một thế kỷ rưỡi kể từ khi người Pháp xâm chiếm và bắt đầu công cuộc “khai hóa văn minh”, đến nay, kiến trúc nhà cửa của người Việt vẫn là những kiến trúc nham nhở, vụn nát, nhà nọ bất cần đến nhà kia và không ăn nhập gì với tổng quan môi trường xung quanh.

Ở thành thị cũng như nông thôn đều là sự đan xen giữa những ngôi nhà cũ mới, không lạ gì khi đang ở giữa khu lụp xụp nổi lên một ngôi nhà lộng lẫy, cũng như ở nông thôn, giữa cánh đồng có khi vụt lên một ngôi nhà cao tầng ngất nghểu, màu sắc lòe loẹt, cấu trúc thô kệch…

Những khu biệt thự, những khu chất lượng cao, là sự vay mượn không đồng nhất kiến trúc phương Tây, cũng nham nhở và lộn xộn tương tự.

Cũng như trong cuốn sách có nói, dù đối với những nhà khá giả thì nhà cửa được xây dựng kiên cố, cầu kỳ hơn nhưng “trong cách lựa chọn và kê dọn đồ đạc luôn có vẻ gì quê mùa và vụng về cố hữu của dân xứ này”.

Chuyện xây dựng nhà cửa thì thôi, vì tuy là một nước luôn gây tranh cãi về cái gọi là “dân chủ”, nhưng việc xây nhà dựng cửa, làm mồ mả… thì không chính quyền cũng đành chào thua người dân. Họ xây trên đất của họ (dù đất thuộc quyền sở hữu toàn dân do nhà nước đứng ra làm đại diện) thì họ vẫn được tùy tiện, thỏa sức… Nhưng những kiến trúc chung thật đán g sợ, một thứ “cha chung không ai khóc” cho dù mới đầu có thể đẹp long lanh, chỉ cần vài tháng, vài năm đã hóa thành thứ rác rưởi.

Điển hình như các khu bệnh viện, một sự xuống cấp nhanh đến đáng sợ, từ các phòng bệnh cho tới khu vệ sinh. Vệ sinh chung trong các khu bệnh nhân là một thứ kinh hoàng, làm cho người đi chăm sóc bệnh nhân còn sợ hơn cả sợ chăm người bệnh. Cũng giống như các khu ký túc xá của đám sinh viên, các khu tập thể cũ…

Sách có viết, “Một số ngôi chợ được xây cất có vẻ vững vàng, nhưng chẳng bao lâu sẽ trở thành tàn tích, nếu không được chính quyền chăm sóc bảo trì.”

Và đến giờ vẫn thế, có khi giữa những thị tứ đẹp đẽ, đuề huề, những trụ sở công quyền hoành tráng, lại có một khu chợ bẩn thỉu, lụp xụp, rác rến… Mà không ai thấy khó chịu, thấy có nhu cầu phải cải tạo nâng cấp nó. Có lẽ, vì người ta chỉ đi chợ một loáng rồi về, chẳng ai ở chợ cả ngày cả – trừ người bán hàng – mà người bán hàng thì góp phần nhiều vào cái sự suy tàn ấy…

Sách cũng viết, “… còn nhìn thấy các ngôi chợ thật buồn lòng. Cảnh chợ tàn tạ giữa những vũng nước đen ngòm chất chứa mọi thứ rác rưới do chợ vứt bỏ.”

Tôi hay ngó nghiêng các chợ khi đi đến nơi chốn mới, và luôn thấy trào lên nỗi bi thương bởi khu chợ dù mới xây hay cũ thì cũng đều toát lên cái vẻ sụp đổ, suy tàn. Có lẽ bởi rác rến, bởi bầu không khí nặng mùi… Nhưng hơn cả, là bởi cái sự phó mặc, phó mặc cho hoài hủy mới là đáng sợ nhất.

Kiểm duyệt

Đọc bài báo của nhóm tác giả của ĐH Yale về việc giải tỏa khu vực Thủ Thiêm để từng bước xây dựng Sài Gòn mới. (Vậy đó, chính tên dự án của chính quyền cũng mâu thuẫn, Sài Gòn là cái tên không được sử dụng trong các giấy tờ chính thức kia mà, về mặt địa lý hành chính, cái tên Sài Gòn đã xóa sổ, chỉ còn tồn tại trong ngôn ngữ nói mà thôi. Nhưng giờ đây người ta đặt tên dự án là Nam Sài Gòn, Sài Gòn mới…)

Bài viết có nói tới việc chính quyền đang sử dụng “mỹ quan đô thị như một cơ chế kiểm soát mới”, tức là để hướng tới một mỹ quan đô thị đẹp đẽ (đẹp ở đây đồng nghĩa với có trật tự và được quy hoạch), có không khí mát lành và không gian hít thở cho mọi người dân, người ta trước hết đã biến Thủ Thiêm thành một nơi không thể nào chịu nổi (chặt cây cối để không còn bóng mát, lấp sông ngòi kênh rạch để không còn thoáng khí, biến những bãi đất trống thoáng đãng thành nơi tập kết xà bần, rác rưởi…) rồi cưỡng chế giải tỏa để xây dựng một khu vực thương mại “xanh, sạch, đẹp”.

Bài viết cũng phân tích chính quyền đã xác lập “quan niệm mới” về cái đẹp, bằng cách sử dụng những tính từ vần vò, hướng người dân tới một khái niệm chung về cái đẹp mà chính quyền đã vẽ ra kiểu như “xanh, sạch, đẹp” kia.

Và người dân rơi vào cái bẫy của “viễn cảnh tươi đẹp” , “tương lai xán lạn”, “mỹ quan đô thị”, “không khí trong lành”, “không gian công cộng thoáng đãng”… rốt cuộc bị đẩy ra rìa thành phố, hoặc chui rúc trong những khu tạm cư, tái định cư xây dựng tồi tàn, mất cả sinh kế, mất cả láng giềng, bè bạn… Nói gọn lại, người dân bị đuổi khỏi chính mảnh đất của mình, để trao lại cho chính quyền một vùng đất phẳng phiu, thoáng đãng và từ đó chính quyền thiết kế không gian mới, đẹp theo ý họ, theo cái tiêu chuẩn mới kia… Như cách gọi của bài báo, là chính quyền trở thành “địa chủ xã hội chủ nghĩa”…

Có lẽ là các tác giả đúng, vì trong hiến pháp của nước này, “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý…” mà nhà nước lâu nay không còn là của dân chúng nữa, mà của một nhóm cầm quyền, vận hành và quản lý theo lợi ích của nhóm lợi ích đó.

Cũng trong bài báo, có phỏng vấn nhiều người dân, có hỏi người dân là ý họ thế nào, người dân đều trả lời đại khái là đó là chính sách, ai có thể chống lại chính sách chứ, chúng tôi chỉ là dân thường…

Vâng, tất cả những dân thường đều biết thân biết phận như vậy, bởi tiếng kêu cứu chỉ là tiếng của con vật lạc bầy, kêu lên hoảng hốt giữa tăm tối.

Những người dũng cảm đứng lên đấu tranh thì có thể sẽ bị “đầu gấu vô tình” đánh cho vong mạng, thương tích… (như ở Văn Giang, Hưng Yên – vụ Ecopark),  hoặc có thể bị xe xúc đất chẳng may chèn lên (như ở Cẩm Điền, Hải Dương – vụ Phúc Điền)… Còn vô số những người bị biệt tăm mù tích, chẳng biết tìm ở đâu sau khi dám đứng lên phản kháng, đòi tiền bồi thường cao hơn, đòi việc đo đạc rõ ràng hơn.

Như bà cụ (bà mẹ VN anh hùng) ở Cẩm Điền, từng cởi quần áo không cho lực lượng cưỡng chế đất sau khi bị ép phải mặc quần áo và đẩy về nhà “nghỉ ngơi”, sau đó khi được khuyên nhủ là cụ già rồi, ngồi nhà cho con cháu nhờ, có thở dài bảo, nào tôi có ham hố gì, nhưng toàn đất bờ xôi ruộng mật, không giữ cho con cháu có cái cấy cầy thì rồi làm gì, nhìn người ta san phẳng ruộng xót ruột lắm…

Xót xa với ruộng nương cũng như xót xa với những thứ vô hình không đo tính được đã bị phá nát. Nhưng chẳng thể đứng lên đấu tranh. (Dũng cảm nhận mình là kẻ hèn nhát, yếu nhược).

Họ có thể tống ta vào nhà thương điên, khi càng là hét là tôi không điên thì càng không ai tin điều đó.

Họ có thể tống ta vào nhà tù vì những nhân chứng vật chứng phá hoại, phạm pháp rất rõ ràng.

Họ có thể thêm thắt bịa đặt lịch sử, bóp méo chân dung, thay đổi tô vẽ cho tình tiết bối cảnh, thì họ có thể làm bất cứ điều gì.

Họ có thể, với chính khoa học, còn sáng tạo ra thứ khoa học mới phục vụ cho riêng họ. Không còn là những uyển ngữ chính trị nữa mà là một hệ thống khái niệm/định nghĩa được soạn ra và sử dụng có mục đích (định hướng dư luận, tạo hệ tư tưởng mới…)

Trong Before night falls, nhân vật chính có nói đại ý rằng, với bất cứ chính quyền độc tài nào, cái đẹp đều là kẻ thù và nghệ sĩ đều là những kẻ phản cách mạng.

Vâng. Ở đây.