Giấy đã cháy, câu thơ tình đã cháy*

Trong khi tình cảnh của thơ đang lâm vào cảnh nản lòng: người đọc thờ ơ, người làm rối trí, nhiều nhà thơ đã cố gắng tìm con đường mới cho thơ – cách tân thơ cả về thi pháp và ngôn ngữ, nhưng đôi khi cũng chỉ là tiếng hét giữa vô vọng, vang lên một lần rồi thôi. Trước tình cảnh đó, người bình thản, bền bỉ bám theo những lối cũ là những người anh dũng nhất. Lê Quang Sinh nằm trong số những kẻ kiên gan. Vẫn những ngôn từ đời sống hàng ngày, vẫn những tự do, lục bát, tứ tuyệt, vẫn những tình yêu, con người, thiên nhiên, suy ngẫm, Lê Quang Sinh dường như đã chọn thơ là cuộc chơi cả đời.

Tôi trở về bến đợi những câu thơ
nuôi hy vọng cái mình cầm chẳng được…

Giống như thơ Haiku của người Nhật Bản, thơ Lê Quang Sinh hầu như luôn gắn với địa danh, cảnh trí. Những cảnh vật, con người đời thường, gần gũi được tác giả đưa vào trong thơ: hoa rong riềng, hoa râm bụt, hoa sen, cỏ, cả rượu, cả bia… Và cũng giống như thơ Haiku, tác giả mượn cảnh vật để nói người – những tư lự, đắn đo, suy tính, cảm tình; mượn địa danh để bày tỏ – cảm xúc, lo âu trước những miền đất lạ.

Nhưng Hoành Điếm hình như không hẳn thế!
Mây và em, vô hạn, vô hồi…

Hay:

Khói sương vờ vĩnh như ai đó…
Tôi cứ mênh mông một Thác Bà!

Thơ Lê Quang Sinh không triết lý nặng nề, không tâm sự lớn lao, như chính trong thơ anh đã viết, “to tát để mà chi”? Nhẹ nhàng như lời nói thường ngày, có lúc hơi “điệu đà”, nhạy cảm và có phần “nữ tính”, nhưng có những nhận xét, quan sát thật tinh tế:

Những chóp nhà lấn lướt phong sương
phố nghẹn đặc những trái ngang, luồn, lách!

Hay:

Vài phết son gỗ vào chùa tưởng phật
dăm vệt lan man khói ngỡ đã trầm!

Thơ ca muôn đời vẫn lấy ít để nói nhiều, chuộng sự ngắn gọn, tinh tế nhưng giàu cảm xúc và tư duy đột phá. Chính vì vậy, những vần thơ bình thường, dung dị lại gợi mở những suy nghĩ sâu sa và chạm tới những miền rất kín. Cũng như những người ít lời, kín đáo lại hay ẩn giấu những suy nghĩ bạo liệt. Có lẽ khi trải nghiệm cuộc sống này, chúng ta mới nhận ra cái khuôn khổ ngầm định của nó, áp lên mỗi chúng ta, và muốn bứt phá khỏi nó là một cuộc chiến dài, vì vậy mà cái bạo liệt kia là ý thức phản kháng đời sống của chúng ta chăng? Và trong thơ Lê Quang Sinh cũng vậy, có những lúc bạo liệt bất ngờ:

Em đã quạt gió lành! Em đã ươm mầm độc,
một hòn than lặng lẽ đợi chờ
em ác quỷ hay là cơn thịnh nộ!

hay:

Mời em đắm xuống – Hồn anh đó!
Thả hết mình ra với nước non…

Và những lúc tư lự, trầm ngâm, không cay đắng, nhưng buồn:

Tôi vẫn thường muộn mằn trước một gốc xoài xanh
nắng đã qua. Chim đã bớt rộn ràng…
Đôi trái ngọt trên cành chót vót!
Người nửa chừng,
gồng gánh nửa chừng đi…

Thơ ca đã vượt lên sứ mệnh của nó trong tỏ bày suy nghĩ, là những bức tranh ca tụng cuộc sống này: con người, tình yêu, thiên nhiên… Khi vượt qua được triết lý cao siêu, nó trở về bản chất nguyên thủy là ngôn ngữ, người ta không trông đợi và đòi hỏi thơ bay thoát khỏi đời sống và ngôn ngữ nữa, thơ lúc này chỉ còn là thơ – như chính nó:

Anh khất lại sông Tiền chút nắng
cho câu thơ sánh dưới dạ cầu…

* Một câu thơ trong bài thơ Không giấy nào gói được lửa đâu em của Lê Quang Sinh.
* Tất cả thơ trích dẫn trong bài đều là thơ của Lê Quang Sinh, rút từ hai tập thơ: Dâm bụt vườn hoang (NXB Hội Nhà văn, 2013) và Lê Quang Sinh thơ (Tuyển chọn 1977-2008).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s