Scheherazade

Haruki Murakami
Dịch từ bản tiếng Anh của Ted Goossen.

Mỗi lần họ làm tình xong cô đều kể cho Habara một câu chuyện lạ lùng và lý thú. Giống như Nữ hoàng Scheherazade trong “Nghìn lẻ một đêm”. Nhưng tất nhiên, Habara không giống như vị vua, không có ý định chặt đầu nàng vào buổi sáng sau đó. (Dù sao thì cô chẳng bao giờ ở lại với anh cho tới tận sáng cả.) Cô kể cho Habara nghe những câu chuyện bởi vì cô muốn, bởi vì, anh đoán, cô thích thú việc nằm co người trên giường và trò chuyện với người đàn ông trong suốt những giây phút mệt lử và thân mật sau khi làm tình. Và thêm nữa, chắc là bởi vì cô muốn an ủi Habara đã phải nhốt mình trong nhà suốt ngày.
Vì điều này, Habara đã đặt cho người phụ nữ cái tên Scheherazade. Anh không bao giờ gọi cái tên này trước mặt cô, nhưng nó là cách anh nhắc đến cô trong cuốn nhật ký nhỏ anh giữ bên mình. “Hôm nay Scheherazade đến,” anh ghi lại bằng bút bi. Rồi anh ghi lại ý chính của câu truyện ngày hôm đó thật đơn giản, những ngôn từ khó hiểu chắc chắn sẽ làm bất cứ ai cũng phải thất bại nếu muốn đọc cuốn nhật ký sau này.
Habara không biết liệu những câu chuyện của cô là thật, bịa ra, hay một phần là thật và một phần là bịa. Anh không có căn cứ nào để nói cả. Thực tế và giả định, quan sát và tưởng tượng thuần túy dường như trộn lẫn vào nhau trong những chuyện kể của cô. Bởi vậy, Habara thích chúng như một đứa trẻ mà không đặt quá nhiều câu hỏi. Hơn tất thảy, có thể có điều gì khác biệt với anh chứ nếu chúng là những lời nói dối hay nói thật, hay là một sự chắp vá phức tạp của cả hai?
Bất kể tình huống nào, Scheherazade có khiếu kể chuyện lay động được đến tận trái tim. Cho dù câu chuyện thuộc loại gì đi nữa, cô khiến nó thành đặc biệt. Giọng nói của cô, việc lựa chọn đúng thời gian, cách ngắt nhịp đều hoàn hảo. Cô chiếm được sự chú ý của người nghe, nhử được anh ta, dẫn dắt anh ta tới suy xét và ngẫm nghĩ, và rồi cuối cùng, trao cho anh ta chính xác thứ mà anh ta vẫn đang tìm kiếm. Bị mê hoặc, Habara có thể quên đi thực tại xung quanh anh, nếu chỉ trong một khoảnh khắc. Giống như một tấm bảng đen được lau sạch bằng một miếng vải ẩm, anh xóa sạch lo lắng, những ký ức khó chịu. Ai có thể đòi hỏi điều gì hơn nữa? Ở thời điểm này trong đời mình, kiểu quên lãng này là thứ Habara mong mỏi hơn bất cứ điều gì khác.
Scheherazade 35 tuổi, hơn Habara bốn tuổi, là một người nội trợ trọn vẹn với hai đứa con ở trường tiểu học (mặc dù cô cũng là một y tá chính thức và có vẻ như được mời làm công việc bán thời gian). Chồng cô là một người đàn ông ở công sở điển hình. Nhà họ cách nhà Habara khoảng 20 phút lái xe. Đó là tất cả (hay gần như tất cả) thông tin cá nhân cô tiết lộ. Habara khoong có cách nào kiểm chứng bất cứ thông tin nào trong đó, nhưng anh không nghĩ ra lý do đặc biệt nào để nghi ngờ cô. Cô không bao giờ tiết lộ tên mình. “Anh đâu có cần thiết phải biết, đúng không?” Scheherazade từng hỏi thế. Cô cũng không bao giờ gọi Habara bằng tên, mặc dù tất nhiên là cô biết nó là gì. Cô thận trọng trong việc gọi rõ ràng cái tên, như thể bằng cách nào đó nó sẽ trở thành bất hạnh hoặc vô duyên khi bật qua môi cô.
Chí ít, nhìn bề ngoài, Scheherazade này không có gì chung với nữ hoàng xinh đẹp trong “Nghìn lẻ một đêm”. Cô đang ở độ tuổi trung niên và đã đến kỳ chảy nhão, với má xị xuống và những nếp nhăn chăng đầy khóe mắt. Kiểu tóc của cô, cách trang điểm, và kiểu ăn mặc không chính xác là cẩu thả, nhưng không có điều gì trong đó có thể nhận được bất cứ lời khen ngợi nào. Nét mặt của cô không cuốn hút nhưng gương mặt thiếu tập trung vì vậy mà ấn tượng cô để lại có vẻ mờ nhạt. Vì vậy, những người đi cạnh cô trên đường phố hay cùng thang máy, chắc hẳn sẽ rất ít chú ý tới cô. Mười năm trước, cô có thể từng là một phụ nữ trẻ cuốn hút và đầy sức sống, thậm chí có thể còn làm vài người quay đầu lại nữa. Tuy nhiên, ở vài điểm, tấm màn đã hạ xuống che phần quá khứ cuộc đời cô và dường như không thể nào mở lại.
Scheherazade tới thăm Habara hai lần mỗi tuần. Những ngày của cô không cố định nhưng cô không bao giờ tới vào cuối tuần. Không ngờ gì nữa là cô dùng thời gian đó cho gia đình mình. Cô luôn luôn gọi điện một giờ trước khi tới. Cô mua tạp phẩm ở siêu thị trong vùng và mang chúng tới cho anh trên xe hơi, một chiếc Mazda đuôi cong nhỏ màu xanh dương. Một kiểu dáng cũ, nó có vết lõm ở phía đằng sau do va đập và những bánh xe màu đen đầy bụi bẩn. Đỗ nó ở khu đất trống dành cho ngôi nhà, cô sẽ xách các túi đồ tới cửa trước và nhấn chuông. Sau khi kiểm tra qua mắt thần, Habara sẽ mở khóa, tháo xích và để cô vào. Trong bếp, cô sắp xếp các món đồ và bày biện chúng vào trong tủ lạnh. Rồi cô lập một danh sách những thứ phải mua trong lần thăm tới. Cô thực hiện những nhiệm vụ một cách khéo léo, với tối thiểu cử động thừa, và từ đầu tới cuối nói rất ít.
Khi đã làm xong, cả hai sẽ đi một cách lặng lẽ về phòng ngủ, như thể bị sinh ra ở đó bởi một sợi dây vô hình. Scheherazade nhanh chóng cởi quần áo và vẫn im lặng hòa với Habara trên giường. Cô chỉ nói vừa đủ trong suốt cuộc làm tình, hoặc thể hiện từng hành động một như thể hoàn thành một sứ mệnh. Vào kỳ kinh nguyệt cô dùng tay để hoàn thành kết thúc tương tự. Sự khéo léo của cô, đúng hơn là kiểu thạo việc nhắc nhở Habara là cô là một y tá đã được cấp chứng chỉ.
Sau khi làm tình, họ nằm trên giường và trò chuyện. Chính xác hơn, cô nói còn anh nghe, thêm vào một từ phù hợp ở chỗ này, hỏi một câu khơi chuyện ở chỗ kia. Khi đồng hồ điểm bốn giờ ba mươi phút, cô đột ngột ngừng kể lại (vì lý do nào đó, nó luôn có vẻ như vừa đạt tới đỉnh điểm), nhảy ra khỏi giường, thu xếp quần áo và sẵn sàng đi về. Cô nói, cô phải về nhà để chuẩn bị bữa tối.
Habara dõi theo cô ra đến cửa, móc dây xích, và nhìn qua tấm rèm khi chiếc xe màu xanh dương nhỏ bé bụi bặm lái đi xa. Sáu giờ, anh làm bữa tối đơn giản và ăn một mình. Anh từng làm việc như một đầu bếp, vì vậy mà đưa một món ăn vào cùng nhau không phải là thử thách gì gay go lắm. Anh uống Perrier trong bữa tối (anh không bao giờ động vào rượu) và kèm theo một tách cà phê mà anh nhấm nháp trong khi xem một đĩa DVD hoặc đọc sách. Anh thích những cuốn sách dài, đặc biệt những cuốn mà anh phải đọc nhiều lần mới hiểu được. Không có nhiều việc khác để làm. Anh không có ai để trò chuyện. Không có ai để buôn điện thoại. Không có máy vi tính, anh không có cách nào để truy cập mạng Internet. Không đặt báo chí và anh không bao giờ xem ti vi. (Có mộ lý do chính đáng cho điều đó.) Nó tới mà không nói rằng anh không thể ra ngoài/It went saying that he couldn’t go out. Nếu những chuyến thăm nom của Scheherazade bị ngừng lại vì lý do nào đó, anh hoàn toàn cô đơn.
Habara không bận tâm quá mức về cảnh tượng này. Nếu nó xảy ra, anh nghĩ, sẽ thật nặng nề, nhưng mình sẽ lê qua bằng cách này hay cách khác. Mình đâu có bị mắc kẹt trên một hòn đảo hoang vu. Anh nghĩ, không, mình là một hòn đảo hoang vu. Anh đã luôn thoải mái khi một mình. Thế nhưng điều quấy quả anh là suy nghĩ không thể nào trò chuyện trên giường được với Scheherazade. Hay chính xác hơn là, lỡ mất lần kể chuyện tiếp theo của cô.

+ Đọc đến đây thì thấy chán ngắt, không sao đọc tiếp được nữa. Đoán ra một cái kết, lần đến cuối đọc, thấy đúng như mình đoán.
+ Ông cụ có vẻ tiếc cho H.M, năm ngoái khi Mạc Ngôn được trao Nobel prize, ông cụ thất vọng ghê gớm, chắc đặt hết hy vọng vào năm nay cho H.M. Còn mình thì biết chắc rằng H.M sẽ không được, cảm thấy là ông ta chưa đến tầm. He he. Phillip Roth cũng không. Nói chung là không đoán được là ai, chỉ đoán được ai không được.
+ Mùa thu đẹp tuyệt vời, nhưng mình hoàn toàn rỗng tuếch, như một cái giỏ mây thưa rộng ngoác…

Advertisements

One thought on “Scheherazade

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s