Một cuộc đào thoát

Đó là một chiều tháng Chạp. Buổi sáng mưa lây phây kèm theo gió Đông Bắc nổi lên dữ dội, nên buổi chiều ảm đạm, lạnh tê người. Nhưng trời vẫn hanh khô nên không gian ảm đạm và quạnh vắng.

Anh nhớ, khi đó anh cùng bốn người bạn vào một tiệm cắt tóc cũ ven đường. Cả tiệm chỉ có một người thợ cắt đang đứng rửa tay bên bồn gội, miệng cười điều gì không rõ. Không hiểu sao, lúc ấy một cảm giác chầm chậm, u buồn bao trùm cả tiệm, khiến tất cả đều cảm thấy buồn ngủ vô cùng. Ba người bạn gục xuống chiếc bàn uống nước ngủ thiếp đi. Chỉ còn anh và người bạn muốn cắt tóc là tỉnh táo.

Trong suốt cuộc đào thoát ấy, âm thanh anh nhớ nhất chính là tiếng kèn của phường bát âm và những lời ai điếu anh nghe được văng vẳng trong tiệm cắt tóc. Mà lúc ấy sao anh cũng không thắc mắc là tại sao lại nghe thấy khi ngồi trong tiệm cắt tóc ấy, vốn dĩ lúc mới bước vào cảm thấy rất yên tĩnh, hiu quạnh.

Lúc người bạn muốn cắt tóc vừa cởi được chiếc áo khoác để ngồi vào chiếc ghế xoay trước gương cho người thợ cắt tóc giơ kéo, thì anh thấy có tiếng người ồn ào ngoài đường. Anh nghiêng người qua ô cửa sổ gần sát bàn trà, thì phát hiện ra đối diện hiệu cắt tóc là nhà tang lễ (nhà tang lễ của bệnh viện hay của phường xã nào thì anh chịu, không sao nhớ nổi). Một chiếc xe bus va chạm với một chiếc xe nhà đòn từ trong nhà tang lễ lùi ra. Trong trí nhớ của anh, đó không phải là chiếc xe nhà đòn màu đen như mọi thường, mà trên mui xe lại sơn màu đỏ, hệt như cỗ linh xa ở quê anh.

Mấy người bạn đang ngủ gục cùng đứng phắt dậy định nhao ra, thêm cả người bạn đang ngồi cắt tóc, nhưng anh ngăn cả lại. Vì không có vấn đề gì nên chiếc xe bus đã đi rồi, và những người đi đường cũng tản cả ra.

Trí nhớ của anh dừng ở đó, anh không tài nào nhớ nổi cuối cùng người bạn cắt tóc kia có kịp có một kiểu tóc mới không? Những người đang ngủ có ngủ tiếp không. Anh chỉ nhớ một lát sau đó, cả năm người đều đã ngồi đằng sau chiếc xe tải loại năm tạ, đúng kiểu xe vẫn dùng để chở những người đi xua đuổi đám hàng rong và bán hàng vỉa hè, vốn thùng xe này cuối buổi chất đầy ghế nhựa, ô dù, quang gánh, nay thì chở năm người bọn anh. Anh nhớ, lái xe là một người mặc áo sơ mi kẻ sáng màu, nhưng mặt mũi hắn ra sao thì anh không tài nào nhớ nổi; ngồi cạnh là một người trung tuổi, mặc đúng bộ đồng phục màu cứt ngựa, tay có đeo băng đỏ của đội trật tự, đầu đội mũ lưỡi trai. Thùng xe rất nhỏ, anh ngồi tận cuối cùng, lắc lư như sắp bắn ra ngoài.

Xe đi vào con đường rất hẹp, nhưng vẫn là đường hai chiều, anh thấy có mấy chiếc xe bus lướt qua, không hiểu sao, anh thấy rất hoảng hốt, dù chưa biết bị bắt đi đâu, vì việc gì. Anh chợt có ý nghĩ sẽ nhảy khỏi xe và lao lên chiếc xe bus nào đó để thoát thân mà chẳng nói gì với bốn người bạn còn lại. Vì anh thấy họ vẫn cười nói rất vui vẻ, dường như cả cuộc bắt giữ chỉ liên hệ tới mình anh. Một chiếc xe to chuẩn bị lướt qua, anh nhảy khỏi thùng xe rồi sợ hãi nhận ra rằng đó không phải là xe bus, anh đã nhìn lầm, đó là một chiếc xe du lịch loại to. Cũng ngay lúc ấy, người mặc đồng phục phát hiện ra anh đã nhảy xuống, xe lập tức giảm tốc độ, bật đèn hiệu dừng vào lề đường. Anh cun cút chạy đuổi theo xe, cười cầu tài với người lái xe qua kính chiếu hậu rồi nhảy vội lên thùng xe. Cái nụ cười đầy vẻ ngu độn, với hy vọng là người ta sẽ hiểu rằng anh không định đào thoát, mà chỉ vô tình ngã khỏi xe mà thôi.

Giờ nghĩ lại anh vẫn thấy sao mà hổ nhục, anh có khác chi những con vật trong đoàn xiếc thú, biết bị đòn roi và cầm tù  nhưng vẫn cứ răm rắp nghe lời.

Anh chẳng nhớ chiếc xe đi đến đâu, dừng chỗ nào. Cũng không nhớ được anh đã bị thẩm vấn và câu lưu bao lâu. Chỉ nhớ, cũng vào một chiều rất lạnh, có thể cũng trong chính tháng Chạp ấy, hoặc là muộn hơn, anh mặc trên người mỗi chiếc áo thun, điều này thật lạ, vì anh ít khi mặc áo thun, anh thường mặc áo sơ mi hơn. Anh đi chân đất, chạy lao vào một con hẻm tối tăm, không hiểu sao lúc ấy chỉ còn hơi thở dồn dập bắt anh phải chạy mà không nghĩ đến khả năng con hẻm đó dẫn vào đường cụt. May mắn cho anh, con hẻm không dẫn vào đường cụt, mà dẫn thẳng anh đến cổng hậu của một ngôi chùa. Chùa nào thì giờ anh cũng không nhớ. Chỉ nhớ từ cổng đến mái chùa đều bằng xi măng xám xịt, anh vừa đặt chân vào đã thấy lạnh buốt lên tận óc.

Ngôi chùa hoàn toàn vắng vẻ, im lặng bao trùm, không một âm thanh gì hết. Lúc ấy anh nhớ mình chạy từ cổng hậu, băng qua sân, lao về phía cổng tam quan. Đứng dưới cổng tam quan anh có dừng lại tần ngần, vì trời lại bắt đầu trở gió, mưa bắt đầu rơi. Anh nhớ, anh đã nghĩ, nếu cứ lao ra ngoài đồng kia thì anh có thể chết vì sưng phổi, hoặc cũng có thể bị bắt lại vì lúc mưa gió rét mướt chỉ có một mình chơ vơ giữa cánh đồng, không gì che chắn. Nhưng anh không ở lại ngôi chùa ấy, chỉ vì mỗi lý do thật ngớ ngẩn, phải chạy cho mau không nhỡ có con chó nào đó lao ra cắn! Đáng lẽ anh phải sợ bị người xua đuổi hơn mới phải.

Anh không nhớ anh đã chạy trên cánh đồng bao lâu trong buổi chiều đã rất muộn ấy, chịu cái rét thấu xương khi chân không giày, không áo rét.

Cảnh cuối cùng của cảnh đào thoát là anh cũng thoát ra từ một ngôi chùa, nhưng là một ngôi chùa sặc sỡ hơn, hình như sắp hội hè hoặc tết nhất, rất nhiều tua ngù đỏ, cờ phướn bay phấp phới, nhưng tuyệt nhiên không có bóng dáng con người nào. Anh chạy vụt qua đó, anh vẫn còn nhớ cái mái cong của ngôi chùa, xẹt ngang đầu anh như một ấn son.

Sau đó anh đi bằng cách gì, qua những đâu, anh không tài nào nhớ nổi. Chính điểm cuối cùng này anh cũng không nhớ là đâu, liệu có phải anh đã thoát ra khỏi một nơi rồi tới, hay chỉ là anh đã tự chạy tới mà chưa hề thoát ra khỏi nó.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s