ĐÀO VONG

Mặc dù nhân dân đang mạnh mẽ chống Tàu, nặng thì xuống đường biểu tình, nhẹ thì cũng bài hàng Tàu. Nhưng mình can đảm (một lần này), trong lúc nước sôi lửa bỏng, vác một ông Tàu xịn ra để xem lại. Cuốn này đọc lâu rồi, nhưng vì có vụ lùm xùm kia nên moi ra, thử sử dụng kế “dĩ Khựa công Khựa” (lại Tàu!) Thực ra thì ông này đã bị tước quốc tịch Trung Hoa lâu rồi, giờ mang quốc tịch Pháp kia. Hình như sau khi nhận giải Nobel Văn chương thì nước Trung Quốc cũng vẫn chẳng hề nghênh đón ông chút nào hết, chứ không giống như ở ta, thấy có người được giải thưởng danh giá là phải đón tiếp tưng bừng ngay, cho dù người ta nói rõ là cái “danh giá đó thuộc về Pháp quốc”… Đấy là Kinh thánh của một người, nằm trong tập Cao Hành Kiện – Tuyển tập tác phẩm (TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây và NXB CAND). Còn ông ta, tác giả cuốn sách này, có lẽ, trước sau vẫn chỉ muốn là người viết.

Đấy là một hành trình dài, cả cuộc đời của một người đàn ông, từ khi còn mặc quần “hở đáy” đến lúc trưởng thành. Nên những trang sách thật sống động: có ái tình thắm thiết, nhục dục trào dâng, có bắn giết, nghi ngờ, sợ hãi, phản trắc, hèn nhát, đau khổ, đào tẩu, lưu vong, hồi quy, danh vọng…

“Trước đấy anh chưa hề nghĩ đến chuyện chống Đảng, thậm chí chẳng muốn phản đối ai, anh chỉ mong người ta đừng chọc phá hay quấy rầy những mộng tưởng của mình… Trong bầu trời muôn ngàn rủi ro chính trị, muốn bảo vệ lời nói của mình, chỉ còn cách trà trộn với mọi điều dung tục, nói tiếng nói của quần chúng, mang bộ mặt của đa số, Đảng bảo gì làm nấy, hủy bỏ những hoài nghi, y như các khẩu hiệu thường hò hét…”

Thuở đó, người ta viết trên giấy, vì vậy mà đám văn sĩ trói gà không chặt, lũ mơ mộng cùng đường, phải tìm mọi cách mà giấu đi bút tích của mình. Khốn nạn hơn, đến cả nhật ký, sổ tay cũng phải tự tay hủy diệt.

“Anh khóa trái cửa, kéo rèm nhìn ra ngoài sân, đèn láng giềng đều tắt cả, đoạn cẩn thận nhóm lò đôt chồng bản thảo, sổ tay và các cuốn nhật ký, gom góp từ ngày vào đại học đến nay cũng tới mấy chục tập. Bụng lò nhỏ, phải xé từng tờ mà đốt, đợi cho ngả màu tro trắng mới xúc đổ vào thùng nước, quấy thành bùn, không để bay ra ngoài một chút tàn nào hết…”

Còn ngày nay, người ta xóa dữ liệu, cắt đường link, quá lắm thì “oánh” cho sập hẳn. Thủ đoạn của các nhà cầm quyền mới thú vị làm sao!

Đau khổ nhất có lẽ là những phần viết về văn chương chăng? Không phải chỉ là văn học thuần túy, lý luận hay bí kíp viết lách gì, mà còn là tâm trạng, cảm xúc, hơi thở của người cầm bút khi phải vạch ra những điều chân thực từ cuộc sống vô cùng khắc nghiệt.

“Anh không sáng tác theo trường phái ‘thuần văn học’, nhưng cũng chẳng là một đấu sĩ, không dám biến ngòi bút thành vũ khí đứng ra tuyên bố chính nghĩa, một loại chính nghĩa không biết đang ở tận nơi đâu, thì đừng nên đem cái chính nghĩa ấy ký thác cho ai cả. Anh chỉ biết anh tuyệt nhiên không phải là hóa thân của chính nghĩa, cho nên sẽ viết những gì mà bất quá cũng chỉ đóng khung trong phạm vi nói rõ, rằng có một cuộc sống như thế, còn bùn nhơ hơn cả bùn nhơ, còn chân thực hơn cả địa ngục trong trí tưởng tượng, còn khủng khiếp hơn cả lời phán xét ngày tàn…”

Anh ta dũng cảm, anh ta dám đứng ra nhận phần hèn nhát về mình, rằng viết với anh ta chỉ là một nhu cầu mang tính bản năng chứ không phải là thứ gì ghê gớm như mọi người lầm tưởng, như đòi chính nghĩa, công bằng hay lý tưởng… Có lẽ, những người người bút có tầm vóc đều bắt tay vào viết là vì thế – khởi thủy từ chính nhu cầu của họ chứ không nhằm dụng ý gì khác để thỏa mãn số đông quần chúng…

Anh ta còn nhận về mình sự tầm thường, lúc dối trá… Nhưng ẩn sâu trong đó là khát vọng cuồng điên viết lách, mong muốn “phóng xả” tất cả những điều căng nở trong tâm gan trên giấy trắng.

“Anh đem những cảm thụ, kinh nghiệm, mộng mơ, hồi ức, ảo tưởng, suy nghĩ, phỏng đoán, dự cảm, trực giác của mình nói cho ngôn ngữ, âm nhạc và tiết tấu, liên kết với trạng thái sinh tồn của con người, hòa tan hiện thực và lịch sử, không gian và thời gian, quan niệm và ý thức trong quá trình thực hiện ngôn ngữ, và chỉ để lại bao huyền ảo mê hoặc của ngôn ngữ mà thôi…”

Câu chuyện rất dài, rất nhiều khổ đau, rất nhiều oan trái. Thật ra, anh ta cũng đã từng dại dột đứng lên đấu tranh, nhưng rồi những cuộc tranh đấu thương đau đó đã cho anh ta những bài học nhớ đời – tức là kèm theo những vết thương không tài nào xóa nổi. Để rồi anh ta chỉ còn muốn “đứng bên ngoài cách mạng và phản cách mạng để kiếm miếng đất cắm dùi, bàng quan một cách xa vời…” Nhưng mong ước này mới khó thực hiện làm sao, thế sự đẩy người ta vào huống cảnh trớ trêu, rằng anh không được phép đứng ngoài cả bên trái lẫn bên phải, nghĩa là không có biện pháp nửa vời, thế là “đành đeo mặt nạ, trà trộn sống nhờ.”

Chẳng dễ gì tóm lại cả một đời người trong vài trăm trang giấy, bút mực nào kể hết được những thống khổ, hoài nghi, tuyệt vọng… mà hơn cả thế là của cả một lớp người với bao hệ lụy. Thế nên thật khó để mà kể lại lịch sử cũng như số phận con người qua một bài viết gói gọn trong một hai nghìn từ. Thì thôi, hãy cùng ghi nhớ một điều ngắn ngủi thôi, rằng đây chỉ là bản tường trình số phận của một con người, và quanh anh ta thì có gia đình, bạn bè, láng giềng, đồng nghiệp. Anh ta gọi ghi chép ấy là kinh thánh của anh ta, không cứu vớt cũng chẳng buộc tội cho ai cả, mà chỉ cho chính anh ta mà thôi.

“Đây là nhận xét, giám định của anh đối với anh ấy, nó có thể thay cho phần hồ sơ cá nhân đang lưu trữ ở Trung Quốc, nhưng đương sự thì mãi mãi không bao giờ đọc được.”

Nhân vật đã trốn thoát. Thoát được khỏi tổ quốc đang lâm nguy trong cảnh đấu đá hoang tàn, khẩu hiệu này chồng khẩu hiệu kia, “hôm nay sai, ngày mai đúng”; con người không biết tiến hay là thoái nữa, vào vòng cũng chết mà đứng ngoài cũng chẳng yên. Anh ta còn trốn được khỏi cuộc hôn nhân kinh khủng nhất trần đời, khỏi mụ vợ quái đản, không hiểu là ai, thuộc loại nào nữa. Nhưng có lẽ, hãy đổ cho số phận, và cho cuộc đời đã đẩy chị ta vào đường tranh đấu quá nhiều, đến mức không còn biết tin vào ai, vào cái gì nữa, thậm chí, còn không nhận ra được chính mình…

Cuộc đời vốn dĩ chất chứa trong nó sự đổi thay. Kẻ đào vong tưởng phải biệt xứ, nhưng nhờ sự thay đổi kia mà có cơ hội trở về. Nhưng đấy là chuyện của mấy chục năm sau, khi vô số cơ hội, cảm xúc, con người, hy vọng… đã chết, mà chẳng thể hồi sinh…

Người đọc mường tượng một cái kết trong câu chuyện về kẻ đào vong là cảnh diễn ra ở một phi trường hay cảng biển, người ra đi vui mừng khấp khởi vì cuối cùng cũng đến được với tự do. Quả có cảnh ấy thật, nhưng là phi trường ngập người là người, và người ta hốt hoảng đến mức chẳng còn nhìn kịp được “người con gái ta yêu” chứ đừng nói đến vui sướng hân hoan.

Mà cảnh kết là “một buổi hoàng hôn đi ngang qua Cổ Lâu” anh gặp lại cô em thuở trước “có vết sẹo trên vú trái” giờ đã là một đóa hướng dương tàn*… Và cái câu của cô trong lời kết đơn giản nhưng tha thiết và đau đớn làm sao, “buồn lắm anh ơi”… Quả là buồn…

 * Có bài ca ví xã viên hợp tác xã như hoa hướng dương (theo tác giả).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s