ĂN TẾT MÙNG NĂM

…Tháng tư đong đậu nấu chè

Ăn tết đoan ngọ trở về tháng năm…

Tàu dừng ở ga vào thị trấn lúc bảy giờ tối, cái oi nồng và tĩnh lặng của phố huyện nghèo khiến tôi tưởng đến không gian của “Say nắng”. Chiếc tàu hỏa cũng làm tôi chòng chành như con tàu trên sông Vôn-ga làm chàng sỹ quan choáng váng. Mất vài phút để thấy con đường đi, tiếng ve vẫn réo lên những khúc cuối của ngày bởi ánh chiều còn chạng vạng trên các vòm cây. Không khí sực nức mùi mục ruỗng, của chợ họp ngay trước cửa ga có thể vừa tan nửa tiếng trước đây.

Cơn mưa rơi xuống rào rào sau bữa cơm tối phá tan cái ngột ngạt kéo dài đến tận nửa đêm. Tôi đứng bên khung cửa sổ nhỏ chứng kiến tia chớp rạch ngang trời, chớp sáng kịp cho tôi nhìn thấy dưới màn mưa những mái ngói cũ kỹ trầm luân nằm phẳng lặng đón mưa. Những mái nhà bao nhiêu tuổi? Tôi nghĩ, có thể từ thuở tôi còn chưa sinh ra và nằm yên đó suốt dọc dài thị trấn này.

Tiếng mưa dội trên mái ngói những nhịp buồn đều đều, dưới mái nhà trên cái giường cũ đầy kỷ niệm, tiếng vỗ về, âu yếm của cô tôi sao quá dịu dàng, ân cần, dội vào lòng tôi cái cảm giác vụt qua không thể nói được ra lời. Chỉ biết nó là cái tôi đang tìm kiếm, hoặc là cái tôi từng có trong đời mà quá lâu mới gặp, thân thiết mà hiếm hoi, nước mắt muốn trào ra trong khi tôi vẫn tưởng mình đã quá đủ trong đời để chai sạn trước tất cả.

…Ngày mới bắt đầu bằng tiếng còi tàu vào ga. Tiếng còi hú lên đánh thức bao giấc ngủ có thể đang trong giấc mơ êm ái nhất. Nghe tiếng còi tàu là tưởng ngay đến người gác ghi cần mẫn cầm lá cờ và ngọn đèn hiệu chỗ đầu ga, đứng như thể đã chờ sẵn từ ngày này qua ngày khác.

Bâng khuâng giữa bóng nước và ánh sáng trong buổi bình minh của huyện lỵ mưa buồn, suốt một đêm được gột rửa giờ hiện ra dưới mắt tôi quá sạch sẽ, bình yên. Những mái ngói sau đêm tắm mưa như thẫm màu hơn, những ngọn mướp lá xanh mướt với những hoa vàng nho nhỏ leo trên bức tường rêu phong.

Những người dân ven thị trấn đã đi chợ sớm để chuẩn bị cho Tết mùng năm, không khí dân dã bao nhiêu năm rồi tôi mới được thấy lại. Tiếng người nói, tiếng vịt kêu lao xa lao xao. Những gánh tu hú còn xanh đã vội bứt để mang chợ bán lúc lỉu. Và vẫn còn những người gánh lá vối dọc đường đi. Nếu không vì tình yêu với vườn cây, bờ ao nhà mình, với thứ nước uống gắn bó bao lâu nay của người Việt cổ thì ai còn đủ kiên nhẫn để ủ lá vối? Mà sao nhất định phải là lá vối chặt ngày mùng năm tháng năm mới ngon? Tôi cũng không biết nữa. Chắc chỉ là một quan niệm, một ước đoán không chừng. Mà đâu cần biết nguồn cơn, chỉ cần nhớ nhất định ngày năm tháng năm phải chặt lá vối, trước là để ủ cho nhà dùng, sau là gánh đem bán chợ.

Một lát nữa thôi, lá vối mua về sẽ được phơi dọc đường đi. Phải phơi đến ba ngày nắng tốt, nhưng không phơi lúc nắng cháy rát của buổi ban trưa, mà chỉ phơi nắng sớm và muộn chiều, để lá héo chứ không khô giòn. Phơi xong lại đem vào giành tre mà ngâm xuống ao đến cả tuần trời rồi mới đem lên phơi lại. Lần này thì phơi cho khô hẳn, rồi đem cất đi để đem ra ủ dùng hàng ngày. Vị chan chát lúc uống, và rất lâu sau mới đọng vị ngọt nơi cuống họng sao có thể làm người ta luyến nhớ mà kỳ khu làm vậy?

Quá lâu rồi mới được ăn cái Tết mùng năm như thuở lên mười. Một cái tắm buổi sáng sớm để không còn rôm sảy, một bát rượu nếp cái ăn để không còn giun sán, vài quả mận chua, mấy quả tu hú… Rồi giơ bàn tay lên mái nhà (không còn mái rạ nữa) để không bị xước măng rô?! Tôi đã làm tất cả với lòng tin của đứa trẻ lên mười mà còn thành kính, thiêng liêng hơn, bởi nơm nớp sợ mọi thứ trôi quá nhanh, khi ngày rời tôi đi là những thương mến êm đềm này sẽ rơi lại phía sau tôi, để lại chỉ mình tôi đơn độc với những hành trình khác.

Bữa trưa của Tết mùng năm phải ăn thịt vịt, rồi một bát chè đỗ đen. Toàn những thứ giản dị mà sao quá ngon lành. Trong khu chợ chen chúc, dưới những mái ngói lúp xúp, kịp thấy vẫn còn hàng rèn, tiếng bễ kéo phì phò và hoa lửa bắn tung tóe. Dừng một chút để nhớ sắp vào vụ gặt, người ta tranh thủ đi chợ mùng năm còn mang mấy chiếc liềm đi rẽ để đón vụ mùa…

Phố huyện quá nhiều những mái nhà đổ nát, bìm bìm nở hoa tím hồn nhiên trên những hoang tàn, lan tiêu đỏ rực nơi những trụ cổng trơ lớp gạch dường đã mủn nát. Đám trẻ đi bắt ve bằng cái vợt gắn trên con sào dài, lũ ve rơi xuống đất khua khoắng đôi chân phản kháng rất hiền lành, những bước chân người qua vội vàng giẫm cả lên chúng, không biết là đã kịp tiêu diệt một nghệ sỹ đường phố nhỏ nhoi, yếu đuối.

Thị trấn tiễn tôi bằng hoàng hôn chầm chậm buông trên những cột đèn tín hiệu cao cao của ga xép, cuối tuần nên cũng đông đúc lên chút ít, vạt hoa mười giờ trước cửa ga đã khép cánh im lìm như chưa từng rực rỡ. Đoàn tàu đã rầm rập chạy tới. Tôi lên tàu không ngoái lại.

Tôi quay mặt đi để không thấy những dịu dàng thương mến đã rơi lại phía sau, để không thấy người bẻ ghi giơ cây cờ vàng báo hiệu tàu chuyển bánh như một lời chào biệt, để không thấy cô tôi từ chối việc tiễn đưa tôi ra tận cửa ga cách nhà có mấy bước chân bằng cầm nón đứng ngay trước hiên ngó ra phía đường tàu. Tôi gục mặt để không nhìn thấy đôi bạn ngồi đối diện kẻ lên người xuống, mà cậu trai xuống tàu rồi còn chạy vội ra cửa sổ, hai bàn tay siết vào nhau, rồi khi tàu rùng rùng chuyển bánh còn kịp đặt lên bàn tay người đi cái hôn lưu luyến.

Tàu chạy qua những ruộng lúa sắp đến độ chín, những ao sen đã tàn vợi đi nhiều, lá sen đã khô héo ủ ũ trên mặt nước và thảng còn vài bông ngơ ngác vươn lên giữa mặt ao phẳng lặng.

Đi một đoạn thì trời đổ mưa lớn. Phía trước đón tôi là mưa.

* Ảnh: Phơi lá vối trước sân nhà

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s