NỖI ĐAU CÙNG THỜI

 

Tương chiếu giữa Đợi chờ của Cáp Kim (Ha Jin)-Nhà văn gốc Trung Quốc, sinh năm 1956, sống tại Mỹ và Chuyện tình kể trước lúc rạng đông của Dương Thu Hương (1947-), nhà văn Việt Nam, hiện đang lưu vong tại Pháp (theo những nguồn tin không chính thức).

 

 

Xuất bản năm 1983, Chuyện tình kể trước lúc rạng đông đã ghi được dấu ấn đáng kể cho nền văn học nước nhà khi đó. Không chỉ là mối tình lãng mạn, câu chuyện còn ghi lại được những mốc son lớn của lịch sử. Với Đợi chờ của Cáp Kim, ra đời sau đến cả chục năm, ghi lại sự việc diễn ra ở Trung Hoa lục địa cũng những năm chiến tranh và hậu chiến…

Bỏ qua những trang dài của Đợi chờ, xuyên suốt 18 năm đằng đẵng của mối tình giữa bác sỹ Khổng Lâm và y tá Mạn Na cũng như 20 năm dằng dặc của đại úy Vũ Sinh và Hạnh Hoa, tôi đi thẳng vào những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm để làm sáng tỏ cái gọi là ý thức hệ hay nỗi đau cùng thời, những điểm tương đồng trong vòng xoáy trôn ốc của lịch sử, vốn được coi là không bao giờ lặp lại…

Về nội dung tác phẩm, cả hai tác phẩm đều xoay quanh tình yêu, cuộc sống gia đình, những hệ lụy với cha mẹ, con cái…

Về bối cảnh, cả hai tác phẩm đều xảy ra trong khoảng những năm từ 50 đến 80 của thế kỷ trước, sân khấu cho các nhân vật đều là môi trường quân đội. Về nhân vật, cũng đều là những người phục vụ quân đội.

Về chi tiết, có sự trùng lặp giữa hai hệ thống nhân vật thuộc hai tác phẩm. Vũ Sinh của Chuyện tình kể trước lúc rạng đông cũng như Khổng Lâm của Đợi chờ đều là những người đàn ông hiểu biết, điềm đạm; cái điềm đạm họ có bởi sách vở, bởi rất biết kiên tâm trước cuộc đời; cả hai cùng vì chuyện tình yêu mà không được thăng chức, bị sỉ nhục đôi lần. Hai người đàn bà của hai tác phẩm, ít có điểm tương đồng hơn về tính cách, nhưng lại trùng lặp về thân phận, Hạnh Hoa lấy chồng khi còn trẻ, tình yêu bồng bột vỡ tan như bong bóng xà phòng… Ôm cái bất hạnh để nuôi con, để lặng lẽ định chôn vùi đời mình khi còn thanh xuân. Còn Ngô Mạn Na, mang tiếng có tình yêu với Khổng Lâm mà bỏ qua bao nhiêu cơ hội khác (như một sự run rủi tình cờ của số phận, nhất định xô dạt cô về phía Khổng Lâm). Cô bất hạnh vì còn bị làm nhục, bị bao phen điều tiếng. Trong chừng mực nào đó, Hạnh Hoa cũng phải trải qua nỗi đau tương tự thế này. Hai bà vợ danh chính ngôn thuận của hai ông chồng của hai tác phẩm cũng có những điểm tương đồng. Đều là phụ nữ nông thôn, thật thà chất phác, đều vì cái thật thà chất phác đến nông cạn ấy mà làm cho những người khác phải khổ đến gần hết cuộc đời. Lẽ nào trách họ chăng? Trách cái khối người như cô bí thư trong Chuyện tình kể trước lúc rạng đông hay cậu em trong Đợi chờ (cứ tìm mọi cách can thiệp vào đời người khác những tưởng đang giúp đỡ họ, đâu ngờ không chỉ hại họ mà còn hại đến cả cuộc đời người khác) thì đúng hơn chứ? Còn hai nhân vật tội nghiệp (Lụa thì thiển cận thành hẹp hòi, còn vợ Khổng Lâm thì cả đời mới biết ra hiệu cắt tóc có một lần) chỉ đáng thương thôi!

Kết thúc hai tác phẩm đều là kết thúc có hậu, nói như người ta thường nói. Vì công cuộc đợi chờ ở cả hai tác phẩm đều đi đến đích, dù nó quá muộn mằn. Và hạnh phúc quả là ngắn ngủi so với sự chờ đợi đó. Khổng Lâm và Mạn Na sau 18 năm trời chờ đợi, lấy được nhau nhưng dày vò nhau bởi đời sống vợ chồng dường như xa lạ với họ, có lẽ bởi nó quá muộn mằn, bao nhiêu sức lực, thời gian, tuổi trẻ đã tiêu phí cho sự chờ đợi mệt mỏi, và khi đến đích, người ta không còn cảm giác hứng thú nữa, chỉ còn nỗi mệt mỏi bao trùm. Còn Vũ Sinh và Hạnh Hoa suốt 20 năm chờ đợi, sống với nhau được vài năm thì kết thúc bằng cái chết của Hạnh Hoa. Dường như Trời vẫn cho chúng ta sức mạnh để đợi chờ hơn là sức mạnh để hưởng thụ hạnh phúc, nên hạnh phúc luôn ngắn ngủi còn chờ đợi lại luôn quá dài…

Xuyên suốt Đợi chờ là giọng văn hóm hỉnh, xen lẫn những tình huống hài hước và cả những trường đoạn “nóng bỏng” được miêu tả khá tự nhiên. Còn ở Chuyện tình kể trước lúc rạng đông là giọng văn trầm buồn, cũng những tình huống hài hước nhưng cay đắng. Xen kẽ cũng là những trường đoạn âu yếm dịu dàng đầy khao khát…Có thể coi cả hai tác phẩm đều là hai bức tranh đẹp về tình yêu

…Đọc xong để cùng nhìn lại, cái gì đã đầy ải họ? Cái gì đã bắt tình yêu phải qua thử thách, dày vò? Là những nguyên tắc, những khung mắc do chính con người dựng lên? Điều trớ trêu luôn tồn tại dẫu như một nghịch lý, chính con người đặt ra nguyên tắc nhưng lại không thể nào gỡ bỏ ngay được nó một cách mau chóng dễ dàng. Với quy định của chính ủy Vương (nào đấy) đặt ra từ năm 1958, rằng chỉ sau mười tám (18) năm ly thân một sỹ quan mới được ly dị mà không cần sự chấp thuận của người vợ. Khổng Lâm và Mạn Na đã chờ, suốt 18 năm dằng dặc ấy. Mà cay đắng thế, đến năm thứ 18 ấy bà vợ của Khổng Lâm lại đồng ý. Dù chẳng còn ý nghĩa gì nhưng cái gật đầu khác gì việc ném đá vào mặt trống thẳng căng. Chẳng biết cái nào vô hiệu hóa cái nào nhưng 18 năm đã trôi qua hoài hủy. Còn Vũ Sinh với Hạnh Hoa, 20 năm cho một mối tình, cũng chỉ bởi lá đơn của người vợ, không tàn nhẫn ác độc nhưng do thiển cận mà hẹp hòi…

Cùng chung nỗi đau, cũng cùng ở những giai đoạn đó của lịch sử mỗi quốc gia, nhưng kết cục của hai tác phẩm dường như có khác biệt rõ ràng. Ra đời sớm hơn, gây tiếng vang trong suốt những năm 80 cho đến đầu năm 90 của thế kỷ trước, nhưng 20 năm sau, Chuyện tình kể trước lúc rạng đông cũng như tác giả của nó không được nhắc đến ở Việt Nam một cách chính thống. Sau sự kiện năm 1991, những tác phẩm của Dương Thu Hương không được xuất bản, bày bán một cách chính thức ở Việt Nam. Trong một chừng mực nào đó, dường như người ta đã cố công “đuổi” những tác phẩm của bà ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Đâu đó, trong một thế giới nào đấy, bà vẫn có tuyên ngôn, vẫn có tác phẩm.

Còn với Đợi chờ của Cáp Kim, ấn hành năm 1999 và đoạt luôn giải thưởng sách quốc gia năm đó của Mỹ và giải Pen/Faulkner năm 2000. Những tác phẩm khác của Cap Kim vì thế cũng được để ý, tìm đọc… Tôi không rõ Chính phủ Trung Quốc có “bài” tác phẩm của Cáp Kim không, nhưng rõ ràng, người đọc vẫn biết đến ông như một phần của Trung Hoa lục địa.

Cũng những động thái này (đối phó với nhân dân, với lịch sử), sau hơn 50 năm kể từ ngày đó, Trung Quốc ngày nay có gì? Năm 2000, Cao Hành Kiện được nhận giải thưởng Nobel văn chương. Cao Hành Kiện cũng bị tước quốc tịch Trung Quốc, cấm lưu hành tác phẩm ở Trung Hoa lục địa. Còn Việt Nam, chúng ta có gì sau hơn 50 năm? Sự ủng hộ của nhà cầm quyền chỉ là điều kiện, cái cốt yếu là nỗ lực và tài năng của mỗi cá nhân, trước nhu cầu được khẳng định mình, được cống hiến cho cộng đồng nói chung chứ không phải là đổ lỗi cho cơ chế hay bới móc quá khứ điêu tàn… Soi chiếu để cùng nhau thấy sự cần thiết bứt phá của mỗi cá nhân, biết tự khẳng định cái tôi, có cái nhìn mang tầm thời đại, vượt qua mọi đe dọa, đè nén hay áp chế để “nở bung như hoa tầm xuân” trên khắp tường rào gai góc…(câu này viết phỏng theo ý của Dương Thu Hương)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s