MUA SẮM GIỮA CHỢ ĐỜI

Chợ đời còn họp mình tôi mua gì?

(?)

Chợ được hình thành từ lâu đời, đó là không gian văn hóa của người Việt cổ, là nơi trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa, thậm chí cả giải trí, tham quan bên cạnh việc mua bán, đổi chác hàng hóa. Chợ ở mỗi vùng quê đều có quy định riêng của nó, có phiên chính phiên xép, có chợ chỉ bán các sản phẩm phục vụ lao động như nông nghiệp hoặc nghề phụ của vùng đó. Mà chỉ chữ “chợ” thôi người ta đã hình dung đến cảnh bán mua tấp nập, người hỏi giá, người mặc cả, người chọn lựa, những dãy hàng được sắp xếp trật tự, chỗ hàng khô, chỗ hàng tươi, hàng rau, hàng thịt, hàng cá… Còn có chỗ cho người bán bóng bay, kem que hay là những trò quay thưởng dụ bọn trẻ con; những người ăn xin, người hát dạo… Chợ luôn được họp vào sáng sớm tới trưa, trừ những ngày sắp Tết Nguyên đán, chợ chiều là thứ chợ tạm, những thứ chẳng còn tươi ngon mới được bày bán. Thế nên, chỉ nội hai chữ “chợ chiều” đã thấy buồn lơ lửng rồi.

Muốn biết dân chúng trong vùng sinh hoạt ra sao, hãy đến chợ của vùng, ở đấy sẽ biết họ ăn thứ gì, mặc ra sao, mua sắm cái gì, các sản vật địa phương, món ngon món lạ, và tác phong của người dân khi đi chợ là biết người ta đang bận rộn hay nhàn rỗi. Ngày nay, nếp sinh hoạt chợ phiên đang bị mất dần, bởi nhu cầu sinh hoạt lớn hơn, nên đã có những khu chợ tạm phục vụ quanh năm ngày tháng, bất kể sáng trưa; văn minh “siêu thị” biến tất cả mặt hàng thành những con số mã hóa, không còn cảnh hỏi giá hay mặc cả, người ta im lìm lựa chọn, im lìm bỏ vào thùng, im lìm thanh toán… Chưa kể đến những chợ ảo trên mạng, người ta không phải đi lại, ngó nghiêng, tìm kiếm, người ta ngồi ở nhà, chọn, chọn, chọn rồi có người mang đến tận nhà… Ôi, những cách mua hàng giết đi của người ta bao nhiêu giờ phút nhẩn nha, có thể gặp một người quen cũ hay một họ hàng xa xa, dừng lại chào hỏi đôi lời thế là có bao nhiêu điều để biết; hay những lúc mỏi chân dừng lại ở hàng quà, ăn những món quà vặt dân dã, những thứ người ta không mua được ở đâu…

Giờ đây, các khu chợ giờ đã được xây dựng khang trang lên nhiều, không còn sợ mưa sợ nắng như trước đây, nhưng cũng không thu hút bằng những siêu thị sáng choang, ấm vào mùa đông mát vào mùa hè. Siêu thị tiện dụng đến một người tiết kiệm chi tiêu, ngại ngần mua sắm như cô tôi mà còn năng đến, thi thoảng vào nhặt vài món cho vui! Cũng may, vẫn còn nhiều món người ta không thể tìm mua ở siêu thị, nên vẫn phải ghé đến những hàng xén nho nhỏ bên ngoài, những hàng bán những món đồ quê kiểng… của mấy bà già vẫn hay ngồi buồn thiu phủi bụi cho gian hàng hẹp.

Chợ Tết – phiên chợ ngày cuối năm ở quê mới thật là thú vị. Người bán kẻ mua đều cuống cả lên vì cái Tết ngay sau lưng, nhưng không vì thế mà mua vội bán vàng, vẫn phải cố chọn thứ ngon đồ đẹp, bởi cả năm chỉ có mấy ngày Tết mà thôi. Chợ họp đến tận chiều muộn, mà đến tận lúc dọn hàng vẫn có người cuống lên chạy ra mua mấy thứ đồ không thể thiếu được đã trót quên. So cảnh chợ ngày Ba mươi với mồng Một Tết thật là cách nhau cả trời cả vực, dù chênh nhau chẳng đến mười hai giờ đồng hồ. Trước đây, người ta còn phải chọn ngày mới cho mở cửa chợ, để cả năm còn mua may bán đắc, nhưng sớm lắm thì cũng phải ngoài mồng ba Tết. Nhưng giờ thì chỉ có ngày mồng Một người ta nghỉ, còn từ mồng Hai chợ đã lác đác họp những hàng thực phẩm cần thiết rồi, đến mồng Ba, mồng Bốn là đã đông vui tấp nập.

Vẫn thích ghé vào chợ mua hàng của chị bán hàng thọt chân quen thuộc, dù những món có thể mua được ở siêu thị trông hào nhoáng hơn, vẫn ngồi chờ chị lấy ra món đồ cần thiết một cách rất thành thục với cái chân trái kéo lê, xoay xở trong gian hàng hẹp vanh vanh, chồng chất lên những hàng là hàng, vậy mà hỏi món nào cũng nhớ mà mang ngay ra được.

***

Hôm qua tết ông Công ông Táo, giời lạnh, nhưng người đông nườm nượp, người ta chen nhau mua cá với đồ cúng, khói đốt mã bay đầy trời mà chẳng vơi đi cái lạnh. Hoa đào nở dọc đường đi, chen giữa hoa mai vàng rực rỡ, những chậu lan cao sang, những chấm hồng mảnh mai ấy vẫn là xuân nhất. “Mùa xuân, mùa xuân thật rồi…” (thơ Nguyễn Bính).

Mất tư cách làm người hay nỗi niềm của kẻ bị thương bởi lớp “bông gòn hạnh phúc”

(Nhân đọc Thất lạc cõi người của Dazai Osamu, người dịch: Hoàng Long, NXB Hội Nhà Văn và Công ty Sách Phương Nam xuất bản năm 2011).

Thế gian sẽ chẳng dung tình đâu.

Chẳng phải thế gian. Chính là mi không tha thứ ấy chứ.

Nếu lại tái phạm, thế gian sẽ cho mày biết tay.

Chẳng phải thế gian. Là mi đấy chứ.

Bây giờ thế gian đã chối bỏ mi.

Chẳng phải thế gian. Là mi chối bỏ đấy.

 

Thông thường, tôi không đọc những bình luận, cảm nghĩ của người khác về tác phẩm trước khi viết ra những suy nghĩ của mình. Riêng với cuốn sách này, tôi đã phạm vào nguyên tắc kia, đọc những ghi chép của dịch giả trước khi viết. Những bình luận của Hoàng Long luôn làm tôi thấy xúc động, và gợi cho tôi rất nhiều thôi thúc, ngoài nguồn động lực để tìm đọc những cuốn sách đang được nói đến, còn là ham muốn được giãi bày.

Trở lại với Thất lạc cõi người, Hoàng Long có viết rằng, “Giọng văn hài hước, đôi khi có chút khoa trương khiến ta nhiều lần phá ra cười xong lại bùi ngùi cảm động.”, thì tôi coi cuốn sách là sự song hành của hai luồng văn bản, một là giọng văn hài hước cay đắng kia, một là nỗi buồn thăm thẳm, nỗi cô đơn tột cùng. Và cá nhân tôi, khi đọc Thất lạc cõi người không thấy cái cười kia chút nào, ngay từ những trang đầu tiên, khi nhân vật còn là một đứa trẻ “tinh ranh” đã thấy ngay được nỗi cô đơn, lạc loài, vô vọng kia. Có lẽ là những kẻ “đồng bệnh tương lân”, nên tôi nhận ra cái hơi thở của kẻ lạc loài, đang đứng bên rìa cuộc sống, của cả gia đình, trường học, xã hội…

Cho phép tôi được bỏ qua việc kể lể dài dòng về nhân vật chính của câu chuyện, Yozo, kể từ khi là một chú bé “tinh ranh” luôn bày trò cười cho mọi người dù trong lòng chẳng có chút vui vẻ, hứng thú, cho đến khi thành một thanh niên sa đọa, nghiện ngập, rồi rốt cuộc trở thành phế nhân, phó mặc sự sống cho cuộc đời vốn vẫn dửng dưng bất tận này. Tôi muốn đi thẳng vào cái văn bản chìm dưới giọng văn hài hước kia.

Trước hết, đó sự lạc loài của Yozo. Như chính nhân vật đã thú nhận, rằng không thể “dự tưởng nổi” cuộc đời, không thể sống được như người ta vẫn sống. Với tôi, đấy chính là nỗi cô đơn khủng khiếp nhất, bắt nguồn từ sự lạc lõng của kẻ đáng thương kia. Khi không thể dung hòa nổi cái tôi cá nhân với những quy ước của đời sống thực tại.

“Tôi tự hỏi tại sao người ta phải ăn mỗi ngày ba bữa chứ, khi ăn mọi người có cần làm vẻ mặt nghiêm túc như vậy không, cứ làm như thể là một loại nghi lễ nào đó không bằng.”

Đôi khi tự hỏi, những quy ước đó do con người đặt ra, tại sao lại phải làm nô lệ cho nó, phải gò mình vào nó. Sao chúng ta không thể đặt ra quy ước mới cho riêng mình? Và vì không thể là kẻ khai đường mở lối, Yozo đành phải làm cái hành động mà nhiều kẻ lạc lõng, cô đơn vẫn hay làm, đó là đeo mặt nạ để sống. Có nhiều người, đeo mặt nạ đến lúc nó trở thành gương mặt thật của họ, chẳng cần phải thay đổi nữa. Nhưng với Yozo thì sao? Anh ta thấu được cuộc sống, nhưng không thể dung hòa nó, và đeo mặt nạ vào chỉ để che đi cái tôi thật mà anh ta biết nếu lộ ra người đời sẽ không dung thứ cho nó.

“Vì vậy tôi gắng nối kết với con người bằng một sợi dây mong manh của chú hề. Bề ngoài thì cười liên miên bất tuyệt còn bên trong luôn toát mồ hôi về thập phần nguy hiểm có thể nói đến mức thứ ngàn lần mà không biết chắc có lần nào thành công hay không.”

Vì thế, trong anh ta có hai con người cùng tồn tại, một con người thật luôn nhìn con người giả kia mà ngậm cười. Tôi thấy thấp thoáng cái cảm thức của Hàn Mặc Tử, khi chia con người thành phần hồn và phần xác, có lẽ cũng tương tự như Yozo vô vọng này đây:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,

Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực.

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức,

Rồi bay lên cho tới một hành tinh,

Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình,

Để gào thét một hơi cho rởn ốc,

Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục.

Người đời sẽ hỏi, tại sao lại cứ phải đày đọa bản thân mình như thế, Yozo sao không ngoan ngoãn học hành, rồi kế bước của gia đình danh giá kia. Làm sao tôi có thể lý giải cho người đời về cái nguồn cơn của Yozo cô đơn cùng cực kia, tôi chỉ có thể phỏng đoán, áng chừng. Tôi chỉ có thể từ tôi mà suy ra nỗi thống khổ của kẻ đơn độc,  muôn đời đứng bên rìa đời sống kia. Một phần (có thể) là do từ máu thịt con người, có kẻ cả đời thích hưởng lạc, có kẻ cả đời mạy mọ đi tìm kiếm cái chân lý tưởng. Một phần (có thể) là do anh ta quá nhạy cảm (thấy được những điều người ta còn chưa cả kịp nghĩ tới), quá tận tâm (muốn chu toàn mọi việc ở đời), quá tự trọng (ý thức quá rõ địa vị gia đình và bản thân, không muốn mắc nợ ai, thành ra vay người này để trả cho kẻ khác…) Cũng (có thể) có một mối mặc cảm, tủi phận âm thầm nào đó trong tâm hồn, khi nhận thấy mình dị biệt với đa số đồng loại, nên lúc nào cũng phải xù lông để che đậy…

“Bất hợp pháp. Đối với tôi đó cũng là một niềm vui thầm lặng. Hay có thể nói là tôi cảm thấy dễ chịu với điều đó. Thật đáng sợ biết bao cái gọi là hợp pháp trong thế giới này, nó chứa đựng một nỗi dự cảm về một thứ gì đó như một sức mạnh khủng khiếp không tài nào hiểu được. Tôi không thể ngồi trong căn phòng máy lạnh không có cửa sổ như thế được. Chẳng thà nhảy ra ngoài, bơi lặn trong cái biển phi hợp pháp kia rồi chết chìm tôi còn cảm thấy vui hơn.”

Chính bởi sự cô đơn, lạc loài đó dẫn đến nỗi tuyệt vọng vô chừng. Tuyệt vọng với cuộc đời, nên không có đích sống nào hết, tìm đến cái chết nhiều lần cũng như hủy hoại bản thân không thương tiếc. Kẻ cô đơn luôn nổi loạn, dù anh ta không định làm gì ầm ĩ, nhưng rốt cuộc, lại biến mình thành kẻ ai cũng biết tới. Nỗi tuyệt vọng khiến Yozo không thể gánh được bất cứ thứ gì liên quan đến tình cảm, từ tình yêu trong sáng thành thật, đến sự dâng hiến ngây thơ, thậm chí, cả là hạnh phúc. Hạnh phúc cũng thành thứ không chịu nổi thì mới thấy con người ta xa lạ đến mức nào, cô đơn đến mức nào. Mà như thế, cũng có nghĩa là người ta đã trượt ra ngoài mọi quy định, khuôn khổ của đời sống tẻ ngắt này.

“Sáng hôm sau, mở bừng mắt tỉnh dậy, tôi lại trở thành tên hề khinh bạc thuở nào. Một kẻ yếu ớt sợ hãi ngay chính cả hạnh phúc. Tôi bị thương bởi lớp bông gòn. Hạnh phúc sẽ làm tôi bị tổn thương. Và trong lúc còn chưa bị thương tích gì, phải mau chóng khơi lên lớp khói hỏa mù của thằng hề kia mà nói lời chia tay cho sớm.”

Tôi biết rõ cái chú hề trá hình kia muốn chọc cho người ta cười, hòng che đi những yếu đuối, những yêu thương, những mối nhợ buộc anh ta với con người… mà anh ta không nhận ra, chỉ mang máng thế mà không hiểu vì sao, “Dù sợ hãi con người đến cùng cực nhưng tôi dường như không thể nào dứt bỏ được con người…”

Kể cả cái tình tiết nhờ mua thuốc ngủ hóa ra thành thuốc nhuận tràng cũng không làm tôi cười được, chỉ thấy một nỗi xót xa mà thôi. Và, cái đoạn tả về nỗi cay đắng của Yozo khi biết Yoshiko bị hại, khiến tôi muốn trào lệ. Yozo đã vạch ra được cái tâm thức của người trong cuộc, khi không đứng ra bảo vệ đến tận cùng người yêu dấu của mình, vừa muốn phẫn nộ vừa muốn bưng bít, vừa muốn rũ bỏ vừa muốn cưu mang.

“Không phải thân xác Yoshiko bị điếm nhục mà việc niềm tin của Yoshiko bị băng hoại đối với tôi là một nỗi đau khổ lớn đến mức mà từ đó về sau tôi cảm thấy mình hầu như không thể nào sống nổi nữa. Đối với niềm tin con người nơi tôi đã bị vỡ nát đến mức lúc nào cũng phải rụt rè hãi sợ, lúc nào cũng phải đoán biết sắc diện con người mà cư xử cho phù hợp thì sự tin tưởng hết mực ngây thơ của Yoshiko tươi mới như một thác nước tinh khiết dưới tàn cây xanh. Vậy mà chỉ trong một đêm thác nước trong xanh kia đã biến thành đỏ quạch.”

Cái kết cục người đọc dễ mường tượng tới là cái chết hẳn nhiên của Yozo, bởi thân xác cơ hồ đã bị phá hủy đến tám chín phần bởi sa đọa, còn tinh thần thì có lúc đã vào nhà thương điên. Nhưng lại là cái cảnh còn hoang tàn hơn cả hoang tàn, đó là một phế nhân. Còn tôi những tưởng Yozo tìm được chỗ lý tưởng cho mình trong trại tâm thần, là một cuồng nhân, ở đấy, anh ta có thể la, có thể hét, có thể làm mọi điều mà người không điên không làm được. Nhưng đau đớn là Yozo lại cố tỉnh, một ý thức phản kháng điên rồ của kẻ trót làm người luôn tự nhận mình không còn tư cách làm người.

“Tôi bây giờ không hạnh phúc cũng chẳng bất hạnh.

Tất cả rồi sẽ trôi qua.

Cho đến bây giờ, trong cái địa ngục A tỳ gọi là thế giới ‘con người’ mà tôi đã sống, thì đây là điều duy nhất tôi nghĩ có vẻ là chân lý.”

Không có gì làm tôi đau lòng bằng nhìn thấy cái chết mòn của con người, một sự hủy hoại về cả thể xác và tinh thần, với tất cả những ai còn chút tư cách làm người.

+ Cuốn sách nằm trong bộ Tủ sách Văn học Tinh hoa của NXB Hội Nhà Văn và Công ty Sách Phương Nam. Không chỉ có một tiểu thuyết này, cuốn sách còn có thêm ba truyện ngắn của cùng tác giả Dazai Osamu. Sách nhỏ gọn, cầm vừa tay, chữ thoáng dễ đọc, nhưng vẫn còn những lỗi biên tập cũng như mo-rát lẽ ra không đáng có.

+ Theo như thông tin, thì chính cuộc đời tác giả cũng được dựng thành phim, bản thân ông cũng tự mang cuộc đời mình vào trong tiểu thuyết. Tuy nhiên, riêng với Thất lạc cõi người, tôi không muốn hòa tác giả vào nhân vật, bởi theo kết cấu tác phẩm, thì tác giả chỉ đưa ra những ghi chép ông nhặt được, nếu cứ nhất định gò tác giả vào nhân vật, chẳng phải ông đã thất bại trong xây dựng nhân vật rồi hay sao. Mà với tôi, ông đã rất thành công trong cuốn tiểu thuyết ngắn này, với nhân vật Yozo sống động và cực kỳ biểu cảm. Cho dù được xây dựng từ nguyên mẫu đi chăng nữa, thì nhân vật này hoàn toàn độc lập với tác giả trong bối cảnh của cuốn tiểu thuyết này.

+ Đọc sách trên chuyến tàu chạy giữa đêm, lạnh lẽo và cô tịch đến u hoài, nhưng không có cái cảm thức của Trúc Phương như Hoàng Long dẫn dụ “Soi bóng đời bằng gương vỡ nát/Nghe xót xa ngùi lên tròng mắt…” mà có cảm giác cô đơn đến quái lạ như trong thơ Hàn Mặc Tử “Và ai gánh máu đi trên tuyết…”, có lẽ bởi mang máng một sự điên loạn đồng điệu của hai tâm hồn dù cách biệt địa lý, thời gian và ngôn ngữ.

+ Cuốn tiểu thuyết sẽ lay động nhiều người đọc, như Hoàng Long đã viết phần cuối sách, “Hãy cứ cầm lên và đọc, lúc nào nó cũng như mới nguyên…” Với riêng tôi, là một mối đồng vọng xuyên qua văn hóa và lịch sử, tôi chưa từng đọc về Dazai Osamu trước khi cầm đến cuốn sách này, nhưng những dòng ông viết, những điều ông nghĩ tôi luôn từng nghĩ tới, như mối đồng cảm về cái cảm thức đứng bên lề cuộc sống – theo cách gọi của tôi, còn Dazai Osamu thì viết:

“Có một từ để gọi đó là ‘kẻ ngoài rìa xã hội’. Từ này vốn dùng để chỉ những kẻ thất bại thảm hại hay những kẻ không lương thiện trong thế giới này. Nhưng đối với tôi kể từ khi được sinh ra, tôi đã thấy mình là kẻ ngoài rìa.”

(Tiếc mình ra đời chậm mất trăm năm…)

CÓ LẠI ĐƯỢC TỪ ĐẦU?*

Trời đã đang mưa phùn gió bấc, đầy phong vị Tết. Ngoảnh đầu nhìn lại một năm qua, có gì đọng lại? Mà mỗi năm mỗi lần nhìn lại, gánh nợ đời trên vai mỗi người không ai san sẻ cho ai được. Tự  mình gánh, tự mình mang.

Những xui rủi hoài kéo dài nối đuôi nhau

Rồng rắn*

Thất vọng làm người ta chán chường, toan tính làm người ta mệt mỏi. Dẫu đời sống không phải chỉ có toàn những muộn phiền, nhưng đọng lại trong lòng nếu chẳng phải là mật ngọt hạnh phúc thật sự thì sẽ là mật đắng.

Thật không dễ khi thú nhận về mưu cầu hạnh phúc, được ở trong tay người mình yêu. Đặt cược niềm tin sau thất bại khó biết bao. Con người thực sau lớp vỏ kiêu hãnh, chán chường là đớn hèn, si mê, yêu trong bóng tối. Đứng trước đời thực luôn làm người ta rã rời.

Em thì mệt lắm rồi anh ơi

Mệt muốn buông chùng tay

Mệt muốn thôi tóc không bới chải

Mệt muốn ngủ vùi cho tự khô nước mắt*

Nhiều khi tự bảo, hay buông tay thôi, khỏi sợi dây đời này, chẳng phải đu bám làm gì nữa, nếu cứ phải mệt mỏi thế này. Nhưng con người đâu chỉ là thực thể sinh học bình thường, đâu bảo theo bản năng là theo ngay được, còn thứ gọi là lý trí bắt người ta phải suy tính. Mà sự suy tính ấy nhiều khi rất nhàm.

Vẫn luôn từng ao ước, tìm được người đồng hành để cùng đi đến cuối hành trình trong đời sống. Và thổ lộ rằng tham vọng lớn nhất là tình yêu…

Lắm lúc nhắm mắt, tự huyễn hoặc cuộc đời và tháng ngày

Chỉ là cơn mơ

Khi tỉnh lại, giật mình*

Ngày cuối năm, giữa gió lạnh tê tê, quay trở về thành phố, chợt nhận ra cái không khí chiều thật đậm đặc. Ánh sáng tắt dần mà những đèn đuốc phù hoa còn chưa kịp bật, vẫn thấy rõ những tòa nhà cao cao nhô lên trong làn sương bắt đầu thả xuống, và nhân loại đang chạy vòng quanh cô đơn làm sao. Và mình như người đứng bên rìa thế giới, cô đơn hơn cả tinh cầu, thức tỉnh được cái huống cảnh dễ làm người ta muốn buông tay.

Và làm lại từ đầu tất cả

Làm lại từ đầu tất cả

Thơ lại từ đầu

Yêu lại từ đầu

Mơ lại từ đầu

Gương mặt khắc nhớ lại từ đầu*

Đời sống nghiệt ngã luôn gõ vào tai chúng ta những thanh âm thật phũ phàng, nhưng đó cũng là thứ khiến chúng ta phân biệt được giữa lãng mạn và ảo tưởng, để thực hóa những giấc mộng từ thuở mới vào đời. Tôi không muốn tiểu thuyết hóa cuộc đời, mà muốn cuộc đời hóa tiểu thuyết. Nhưng có làm lại được từ đầu tất cả hay không thì còn phải bỏ ra nhiều thứ như thời gian, can đảm, hy vọng, tin yêu… Mà đến tuổi này, những thứ đó chẳng còn hào phóng được. Những tháng và năm trôi qua, không chỉ khiến người ta yếu hèn còn làm người ta hoài nghi mọi thứ. Toàn những thứ trì kéo, làm người ta tốn kém thời gian để đắn đo, toan tính.

Trong một sát na, chợt ngộ ra rằng, chính đến tuổi này, ta mới có thể làm mọi thứ, mà không còn sợ hãi điều gì, bởi điều đáng sợ hơn là khi muốn làm cũng chẳng làm được nữa. Như tôi vẫn thường hay bảo, đến lúc già, ai cũng thành nhân từ hết, vì chẳng còn sức đâu mà ác được nữa.

Nhưng dẫu thế nào, cũng phải xây một cây cầu để đến bên người mình yêu.

* Thơ Đỗ Thanh Vân.

Cuộc sống trước kia của tôi*

Cuộc sống trước  kia của tôi, trước khi tôi là một bà mẹ ba con, tôi mặc những bộ quần áo đẹp đẽ và thời trang. Tôi trang điểm và uốn tóc mỗi ngày.

Nhưng chẳng ai trao tôi những nụ hôn nồng nhiệt. Chẳng ai nói với tôi rằng tôi xinh đẹp thế nào khi đang đẫm mồ hôi.

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi đọc Tạp chí Time và báo hàng ngày. Tôi mê mải xem chương trình truyền hình Arthur và Magic School Bus, và ngấu nghiến tất cả những cuốn tiểu thuyết  bán chạy nhất.

Nhưng chẳng ai bắt tôi đọc truyện Thỏ bông khi đi ngủ. Cũng chẳng ai bắt tôi đọc The Little Engine that Could.

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi có công việc và bạn bè toàn là những nam thanh nữ tú. Mọi người hỏi ý kiến tôi và giao phó cho tôi những dự án quan trọng cùng những thông tin tuyệt mật. Tôi có hàng trăm cuộc chuyện trò mỗi ngày, nói đến đủ chuyện từ đồ ăn nhanh đến những chuyện tầm phào hay là những cuộc hẹn hò gặp gỡ.

Nhưng chẳng ai hỏi xem tôi thích nhất màu gì hay tại sao bầu trời lại xanh thế. Cũng chẳng bao giờ có ai muốn tôi hát cho họ nghe!

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi có một cuộc đời. Tôi thường tham gia vào các lớp tập aerobic, đến nhà hàng hay tới rạp hát. Tôi dẫn dắt các buổi tiệc tùng mà trong đó chẳng bao giờ nói gì đến phim Chiến tranh giữa các vì sao hay là Gấu Pooh cả. Tôi mua sắm cho bản thân và ngủ nướng cuối tuần.

Nhưng chẳng ai làm thiệp Valentine cho tôi. Cũng chẳng bao giờ có ai tặng tôi những bó hoa bồ công anh cả.

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi đi du lịch, và những điểm đến chẳng phải chỉ quẩn quanh những công  viên hay hồ bơi hoặc là những chương trình chớp nhoáng. Nơi đến của tôi là những tàng tích của người Maya ở Yucatan, lặn biển ở Caribe, các bảo tàng ở Ý, nhà hát Kabuki ở Nhật Bản… Tôi làm chủ đường đi và số phận mình.

Nhưng chẳng ai bắt tôi phải đẩy xích đu cao hơn. Cũng chẳng ai mời tôi vầy nước hay là lăn tròn trên tuyết cả.

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi luôn kiểm soát cảm xúc của mình. Tôi chẳng bao giờ giậm chân hay nghiến răng cả. Tôi chẳng thể dễ dàng ngưng khóc hay tắt ngay một bài chỉ trích. Tôi coi trọng hành xử của mình như sự thoải mái và khoan dung.

Nhưng chẳng ai khiến tôi phải quan tâm đầy đủ đến chuyện khóc lóc. Cũng chẳng có ai yêu tôi với bất cứ giá nào.

Cuộc sống trước kia của tôi, tôi tự do. Tôi có thể vạch ra đường hướng và theo đuổi những mơ ước của mình. Chẳng có gì ngăn trở tôi hết. Nhưng đường hướng đó chẳng chắc chắn gì và tương lai chẳng lấy gì làm rõ nét.

Chẳng ai chỉ cho tôi một mục đích trọn vẹn để tiến tới. Giờ đây, tôi liên tục thu dọn lại hàng chồng áo quần mới giặt, những đám vụn bánh mì và cả đống đồ chơi.

Tôi bị lôi, bị kéo, bị quấy nhiễu, bị hỏi han, bị dẫm đạp, và chẳng có lấy một giây nào yên tĩnh. Tôi mặc bộ đồ jean dính đầy nước hoa quả, mắt mũi kèm nhèm mờ đục, chẳng được trả công và ngập đầu trong công việc.

Và, thi thoảng tôi tự hỏi mình là ai đây và mình sẽ trở thành cái gì. Rồi, một trong đám trẻ hét lên, “Mẹ ơi, con cần mẹ!” và điều đó lại rõ ràng sáng sủa! Tôi là trung tâm của Vũ trụ. Tôi là Mẹ!

* Tác giả: Gayle Sorensen Stringer, rút trong tập Chicken Soup for the Expectant Mother’s Soul.

+ Nhân ngày dở hơi gì ấy nhỉ? Thấy bài này hay hay, gọi là tự chén một bát súp tinh thần để hăng hái sống tiếp nào!!!

Hoa không cần nơ và giấy màu…

Tính ra là còn có mấy chục giờ đồng hồ nữa là sang năm mới 2012. Lại kết thúc một năm, những tháng ngày đã qua mà những muộn phiền, lo lắng thì ở lại. Ngoài đường ngày một tấp nập, giờ nào cũng nghẹt người. Màu lịch mới đã đỏ rực lên cả tháng rồi, và hoa đào đã nở. Năm nay tưởng lạnh nhiều, nhân dân nhặt lá sớm, không ngờ đào thấy nắng tưởng xuân về, nở tung tóe. Từ  cuối tuần trước đã thấy người chở đào đi bán dọc phố. Màu đào phai vẫn đẹp nhất, hơi bàng bạc nhưng yêu kiều, có cái nét hoang dã, bất chấp xung quanh.

Người Việt thì vẫn thế, cái Tết ta mới là chính, nên Tết tây này không lo chuyện ăn mà mải chuyện chơi. Người ta dắt díu rủ rê nhau đi đâu đấy, rồi mải lo chuyện chia thưởng cuối năm. Tin tức ngành nọ ngành kia được bao nhiêu tiền thưởng, tưởng là chuyện kín mà cũng tung đầy trên mặt báo. Cuối năm, người ta cũng tính xem kiếm được bao nhiêu tiền, nên danh sách người giàu có được yết bảng. Chẳng thấy ai làm danh sách người nghèo nhất, chắc nhiều quá, làm không xuể. Nhớ hồi ở Hải Dương, có chương trình Tết cho người nghèo, có doanh nghiệp Tết ta nào cũng tặng mười suất quà Tết từ gạo tẻ gạo nếp, bánh kẹo đến một phong bì, thấy cảm động. Người giàu nghĩ đến được người nghèo như thế là tốt quá rồi. Trong Những kẻ tủi nhục, F.M Dostoevsky chẳng bảo, người no sao hiểu được kẻ đói, nhiều khi chính kẻ đói còn chẳng hiểu được nhau nữa là…

Đời sống bây giờ đã khác hơn nhiều, nhớ đến những cái Tết hồi còn trẻ con, những nỗi lo của mẹ, nhiều khi chỉ là về ông Giời, chỉ sợ ông ấy trở gió nồm, vậy là bao nhiêu giò chả bánh chưng của mẹ sẽ sớm hỏng thôi. Giờ có tủ lạnh, chẳng còn nỗi lo ấy, thì cũng chẳng ăn được nhiều. Bây giờ, cỗ Tết là cố gắng mời nhau vài món thật độc, thật lạ mà khách được mời không có, còn thì những giò, chả, thịt đông, măng mọc đã tiêu giảm đi hết rồi. Nhiều khi, muốn được ăn một bữa cỗ thật là phong vị cỗ như ngày xưa, có miến nấu lòng mề gà, thịt gà luộc, giò, một đĩa xào đơn giản… Mà phải ngồi trên chiếu cói ở nền gạch đỏ chứ không phải chiếu nhựa trên nền gạch hoa hay ngồi trên bàn ăn như bây giờ. Nhưng giờ nông thôn cũng hiện đại rồi, bị hiện đại một cách ngu ngơ và tàn bạo. Tự họ mang vác những thứ cóp nhặt được phá vỡ quang cảnh xưa cũ. Dẫu sao thì họ cũng vui sướng hơn với điều đó, thì cứ đành mừng cho họ thôi!

Và hoa. Xuân là phải có hoa. Năm nay phố hoa lại trưng ra, vẫn những kiểu cách cũ mèm chán ngán đấy, vẫn rừng người rầm rộ tạo dáng khoe hình. Hoa vẫn muôn đời đẹp trong vườn, trên cành của nó. Năm nay, không biết cắm hoa gì nữa, mà có nên cắm hay không. Nhớ đến cả ôm lan tím được tặng một tết năm nào ấy nhỉ, và người tặng giờ còn nhớ đến mình không? Hẳn là quên rồi, kỷ niệm đã cũ kỹ, lòng người đã trơ mòn bởi đời quá nhiều gánh nặng. Nhưng nói thế đâu phải là héo tắt luôn cả những hy vọng, ước mơ.

Và mơ ước có một bó hoa không cần gói bọc, chỉ là những cành tươi trong giấy báo, hẳn đã thành giấc mơ xa xỉ điên rồ…

Những kỷ niệm về mặt trời đang tắt*

Những kỷ niệm về mặt trời đang tắt

Lá đã không còn xanh…

(Anna Akhmatova)

Trời đã vào hẳn Đông. Nhiệt độ xuống thấp, có hôm mặt trời đi vắng luôn cả một ngày. Mỗi sáng thức dậy, điều đầu tiên thắc thỏm là có mưa không, thế là kiễng chân nhìn qua ô cửa thông gió bé xíu để nhìn trời. Mưa thì buồn lắm, Đông mà mưa thì lạnh gấp đôi, lười biếng gấp đôi, mà cũng chậm chạp gấp đôi. Không phải là chờ cho trời tạnh, mà là làm cái gì cũng bị chậm, đi cũng chậm hơn. Hình như độ cuối Thu đầu Đông năm nay mưa nhiều. Có khi cả tuần trời ủ dột. Cứ manh nha, dọa nạt gió mùa ầm ập đổ về, để nhón chân hẳn sang cái mùa giá buốt. Giờ thì đến thật rồi.

Mỗi sáng vùi trong chăn ấm lười biếng trở dậy, lười biếng cả ăn uống. Buổi trưa thì nằm co trên cái ghế xoay màu xanh, tranh thủ chợp mắt, như con cún nhỏ choàng khăn xanh nằm trong cái giỏ đầy vải vụn. Mà căn phòng thì trống trải, mọi thứ cứ trắng bệch ra, đèn trắng, bàn trắng, ô cửa sổ sơn trắng, và cửa kính trong suốt, nên càng có cảm giác buốt giá hơn, cô đơn hơn.

Hôm nay, gió rào rào, đi ngang qua hồ Tây tưởng bị thổi bạt xuống hồ. Mà cúc vạn thọ vẫn nở, cả hoa bóng nước, mai cẩm tú vẫn nở. Vẫn cứ thấy mọi thứ phủ một màu nhờ nhợt, thiếu sinh khí. Nhất là cảm giác cô đơn lúc đi đường. Nếu chụp ảnh vệ tinh, mình sẽ là một cái chấm di động, bé tí xíu, rồi một lát sẽ hòa tan vào muôn vàn chấm khác trên đường đi. Ai biết được cái chấm ấy là ai? Lúc ấy muốn kêu to lên, nếu  quả như trên đời có ai là nửa của tôi, đang tìm kiếm tôi như tôi tìm kiếm người, thì cái chấm là tôi hôm nay màu xanh, áo xanh, quần xanh, và một chiếc khăn quàng sặc sỡ. Và nói cho tôi biết cái chấm nào là người đi?!

Trong những cuộc chuyện trò, người ta vẫn cảnh báo tôi, thức tỉnh tôi, khuyên răn tôi, đe dọa tôi,… rằng cuộc đời rất khác, và tốt hơn là tôi đừng như tôi bây giờ. Khác như thế nào được chứ, cái cuộc đời tôi đang sống đây hẳn cũng giống họ thôi, cuộc đời không phải là một canh bạc, mà là nhiều canh bạc, con người phải đem nhiều thứ ra để đánh cược với nhau, đủ màu hỉ nộ ái ố. Nhưng rốt cuộc cũng sẽ như một nhân vật trong phim nào đấy đã bảo, chỉ có hai cách thôi với cuộc đời này, hoặc là sống hoặc là chết. Nghe tưởng là vô lý nhưng quả đúng là như thế! Còn cái tôi phải thay đổi ư, sao tôi phải nuốt cái ý nghĩa cuộc đời mà tôi không thích chứ, thế thì thà chẳng có ý nghĩa cho xong!

Trước cuộc đời này, dù có bao nhiêu buồn chán, thất bại, đau khổ,… thì mỗi ngày, mỗi ban mai, mỗi lúc mặt trời bắt đầu chiếu rọi, tôi đều muốn được háo hức như ngày đầu tiên. Và các kỷ niệm, nếu có, nếu còn, xin được tắt hết, như mặt trời chiều…

* Tên bài thơ của Anna Akhmatova.

GIÀY CỠ 35

Đàn bà nhớ đôi giày đầu tiên hơn nhớ nụ hôn đầu tiên.

(Đàn ông thì cũng chẳng tử tế hơn gì với chúng ta, họ nhớ chiếc ô tô đầu tiên hơn nhớ người tình đầu tiên.)

Giày cao gót như một ân sủng dành riêng cho đàn bà, không phải chỉ vì mấy phân chiều cao, vì giờ giày đàn ông cũng cao chẳng kém. Mà giày cao gót với đàn bà là sự duyên dáng, nữ tính mà không thứ gì có thể sánh được.

Không chỉ có sự khéo léo của đôi chân mà còn là sự mềm mại, uyển chuyển của toàn thân khi di chuyển. Với giày cao gót, đàn bà vừa quyến rũ vừa bí ẩn, bởi sức mạnh hàm chứa trong gót giày tưởng mảnh mai mà lại đầy sức mạnh.

Không cần làm một cuộc nghiên cứu nào thì người ta cũng hình dung được con đường hình thành nên đôi giày cho đàn bà ngày nay thực là một chặng đường dài, xuyên suốt từ lịch sử. Như một cuộc cách mạng, phải đổi bằng cả máu và nước mắt mà những phụ nữ Trung Hoa khi xưa đã phải gánh chịu, khi bó chân để được đeo vào đôi gót sen tí tẹo. Không chỉ là tượng trưng cho mối hiểm nguy, đe dọa đến tính mạng, đôi gót sen còn chất chứa bao tham vọng, được cận kề bên ngôi báu, được sủng ái, tôn thờ.

Ngày nay, đàn bà được thỏa sức bay lượn, trên những đôi giày đủ màu, đủ chất liệu, đủ kiểu dáng. Từ đôi giày thanh nhã như vũ công ballet đến đôi giày yêu kiều của dạ hội; từ kiểu ấm áp mùa đông đến kiểu mát mẻ mùa hè. Đàn bà có thể đơn giản trong việc chọn áo quần, có thể mua quàng vài thứ mặc tạm chứ ít người mua tạm một đôi giày.

Với đôi giày, đàn bà phải lựa chọn kỹ càng, phải thử đi thử lại mươi lần chục bận trước khi trả giá, vì đôi giày là bạn đồng hành thân thiết, không phải chỉ vì mỗi vẻ đẹp mà còn phải tính đến cả độ thoải mái, tiện ích.

Đôi giày chật đương nhiên chẳng thể đi vào, mà giày rộng thì cũng khốn khổ chẳng kém. Nên nhất thiết đàn bà phải chọn giày thật cẩn thận, như khi kết hôn. Đi một đôi giày bất tiện có thể cố vài tiếng đồng hồ, quá lắm là chịu đựng một ngày chứ sao chịu được cả tháng, cả năm. Sống với người không yêu cũng thế, sao có thể chịu đựng cả một đời.

***

Với tôi, thay đổi kiểu giày cũng là một cuộc cách mạng. Từ những kiểu giày cốt để cho ấm chân, cốt để cho thoải mái xoay đến những đôi giày duyên dáng, yêu kiêu. Nhưng vẫn chuộng những kiểu dáng đơn giản, tránh hoa văn cầu kỳ, màu sắc nhã nhặn, dễ kết hợp với áo quần.

Ấn tượng về Đôi giày màu đỏ của C.Andecxen đã gây mối ác cảm với giày màu đỏ. Tưởng như xỏ chân vào đi ra đường là đã tỏ thái độ bất nhã với ai đó đang phiền muộn rồi. Ký ức thật khó phai nhạt, nhất là khi nó hình thành từ thuở hoa niên.

Đàn bà thật hấp dẫn trong đôi giày cao gót, tay trong tay dạo phố với người tình. Đi dạo trên giày cao gót nào có dễ dàng gì, nhưng đàn bà đang yêu sẵn lòng làm thế, cũng như sẵn lòng làm một cuộc đợi chờ đằng đẵng trên đôi giày cao gót, xuyên qua con ngõ dài đằng đẵng, để đến nơi hò hẹn. Khởi đầu cho một cuộc cách mạng mới, trong trái tim…

ĐƯỜNG MỖI NGÀY MỖI ĐÔNG

Nhân đọc Những ngã tư và những cột đèn – Trần Dần, NXB Hội Nhà văn và Công ty VHTT Nhã Nam.

Cuốn sách được viết cách đây hơn bốn chục năm, bằng một thứ ngôn từ trẻ trung, mà đúng ra là mới mẻ, một sự mới mẻ tới tận bây giờ. Trần Dần tài hoa trong dụng ngôn, từ cách đặt câu xếp từ tới sáng tạo từ mới.

Trong cuốn sách là hai văn bản song hành, một là nhật ký của nhân vật chính – Dưỡng “tàu bò”, một là của tác giả – người chép lại câu chuyện trong nhật ký, và tất nhiên làm sáng tỏ những điều còn chưa rõ trong nhật ký bằng việc ghi chép, nhặt nhạnh, gặp gỡ những nhân vật trong cuốn nhật ký bìa zằn zi rất lạ kia.

Ngôn ngữ của Dưỡng ngổ ngáo, cá tính, cũng đầy sức sống và mơ mộng. Không chỉ có thế, thời gian trong nhật ký bị xáo trộn tung tóe, giống như suy nghĩ của Dưỡng, rất độc lập nhưng cũng rất lãng mạn. Người đọc bị hấp dẫn bởi những suy nghĩ rối rắm, những tình tiết đậm chất trinh thám, hấp dẫn bởi một thực tại cách đây đã mấy chục năm, tưởng xa lạ như trong cổ tích mà đầy sức sống.

“Chiến tranh và hòa bình, nằm kề nhau như đêm nằm sát ngày. Ban ngày khu phố vẫn yên bình. Nhưng buổi đêm, nhà cháy, đá ném vung vãi, khắp nơi, và khẩu hiệu viết tràn ngập các hố xí công cộng. Hòa bình và chiến tranh là như thế, nhưng cả hai đều mới chỉ bắt đầu. Tôi đợi, một cơn bão chưa lên.”

Ngôn ngữ của người kể chuyện thì đã rõ, trau chuốt, có lúc hơi điệu đàng, nhưng đẹp, cá tính.

Tháng mười một 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ sáu hay chủ nhật. Bên kia cửa sổ tôi xanh, có sáu cây bàng rụng lá, và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng mười một vắng lặng, và phố thời chiến vắng lặng. Để chờ những cơn bão chưa tới. Tôi cũng chờ 7 ngày về thăm Hà Nội của Dưỡng, bởi vì cuốn nhật kí của anh bị mất ít nhất hai mươi trang. Tôi vẫn cho rằng, động tác ghi nhật kí thể hiện cách ứng xử của cá cá nhân, với thời gian. Người ghi nhật kí bộc lộ khá nhiều phản ứng, hoặc tích cực, hoặc tiêu cực, với hiện tại, và dường như hiện tại là đối tượng duy nhất, của nhật kí.”

Ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của F.M. Doxtoievski, nhưng người đọc dường như không nhận thấy sự tác động nào đó, bởi lẽ Trần Dần đã tái tạo “cái đẹp cứu thế giới” với một ngôn từ tươi mới và cách sử dụng rất cá tính của mình. Cách dùng câu rất độc, rất ngắn gọn, nhưng ý nọ dắt dây ý kia không ngớt. Lại có rất nhiều “I như trong Thánh kinh”, “Thánh kinh nói”… Bên cạnh đó là sự trẻ trung, thức thời, nhưng cũng rất đắt.

“Ông anh bà chị diện thế. Nom rùn rợn lắm. Mãi mới nhận ra.”

Trước hết, đó là ngôn ngữ phù hợp nhân vật – một thanh niên hai mươi ba tuổi đời – đọc rất nhiều và khá “quấy”. Nhất định gọi vợ là Cốm, lúc nào cũng em Cốm thế này, em Cốm thế kia, cả lúc phản bội vợ.

“Tôi vẫn iêu em Cốm, có lẽ iêu nhất. Mà đã có nhất, thì phải có nhì. Do vậy, mà có Lily, để được tôi iêu thứ nhì. Lily căng thẳng. Em Cốm êm đềm. Cho nên, thành kinh nói: chua, ngọt, đắng, đều cần như nhau…”

Tiếp đó là sự nhịp nhàng của bối cảnh, tình huống với các nhân vật.

Đó là sự kiện cái đẹp cứu thế giới, ít nhất là hai lần đáng kể. Lần thứ nhất là Lily đánh rơi khăn tay xuống sân ga, điều này hoàn toàn phù hợp với tính cách Lily, vì nàng vẫn thường mở toang cửa sổ trong khi chỉ mặc có mỗi chiếc dây chuyền có hình chữ thập. Nàng chả bao giờ tỏ ra yếu đuối hay yêu thương gì cả, ngoài tiền. Nàng đỏng đảnh kinh người.

“Lily nói: ‘Có nghe không? Không Lily ngất cho mà xem.’ Tôi nói: ‘Ngại lắm’. Lily đếm 1, 2, đến số 3 thì Lily ngất thật, nằm sõng soài ngay lòng phố Hàng Đào. Giao thông vì thế mà ùn tắc. Người qua phố xúm lại xem Lily quần áo mỏng tang mùa nực, đang nằm ngủ. Tôi gọi xiclô. Tôi bế Lily nóng hổi lên xe. Tôi biết, ngất cũng là một trò iêu thích của Lily, trong nhiều trò iêu thích khác.”

Lần thứ hai là em Cốm – mà Dưỡng “chê” là thật thà không biết cả hôn cho ra hồn ấy. Dù chả đọc sách “trinh thám” tiếng Pháp như chồng, nhưng lại đưa ra cho Dưỡng một phát hiện lịch sử, ấy là “thằng nhọn cằm” có khi “chẳng phải người của công an” – điều Dưỡng chẳng bao giờ ngờ tới.

***

Đúng như Dưỡng nói, đời có nhiều ngã tư, rẽ sang ngả này là đến đích, rẽ sang ngả khác có thể là đường cùng. Mà đời thì thật khó quyết định khi cứ phải đứng trước quá nhiều ngã tư để mà đo đắn.

Dưỡng quay ngược trên con đường chạy trốn, đời Dưỡng đã sang ngã khác. Nếu đêm ấy Dưỡng theo dự định ban đầu, rất có thể đời Dưỡng sẽ khác… Ai mà biết được.

***

Bố đọc xong bảo, cuốn sách thế này mà sao không cho ra sớm hơn! Nếu cho ra sớm – đúng ra là đúng thời của nó thôi – hẳn số phận của tác giả đã khác. Hoặc là cũng vẫn thế thôi. Nhưng cái trái muộn đôi khi cũng được ấp iu nhiều, người ta cũng trông đợi nhiều hơn. Và biết đâu lại chả để lại dư vị ngon ngọt hơn cả lúc được gọi là “đúng thời” ấy. Đời có quá nhiều ngả rẽ.

Adiđàbụt… Nói theo kiểu của Dưỡng thì, i như trong Thánh Kinh, người ta cho sống mà sống được là mừng rồi.

+ Định làm việc dở hơi là đếm xem bao nhiêu từ “láo nháo” ở trong sách, nhưng nhiều quá, đếm không xuể, đời quả là rất nhiều láo nháo.

+ Thú vị nhất là cái từ “tòn tõn” kiểu “gái quê ra phố” được dùng hai lần để tả em Cốm.

+ May quá, có người giống mình, ấy là anh chàng Dưỡng, có cái mặt nghiêm túc để che đi một dự định không nghiêm túc. “Mặt mũi nghiêm túc, để không bị người đi phố bắt quả tang, giữa một í nghĩ hủi.” He he. Mình mà đi hội nghị, họp hành, là mặt mũi rất nghiêm trang nhé!

KẺ NÀO NGUY HẠI CHO TỔ CHỨC?

Tổ chức giống như một khối ru-bic, những kẻ cầm đầu nắm quyền xoay những màu trong đó, lộn xộn hay chính xác tùy thuộc vào tài của kẻ quay. Nhưng nhiều khi, họ lại không muốn quay đúng về trật tự của nó, một sự lộn xộn rất cố tình. Nếu có trật tự, người ta ngay lập tức nhìn ra chỗ sai sót, nhưng giữa một đống hỗn mang, thật khó nhận ra chỗ nào có lỗi, người ta có thể đổ lỗi cho bất cứ khâu nào, bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào. Lúc nhá nhem là lúc dễ lòe người khác, giữa đám hỗn loạn, cũng dễ nhặt đầy túi mình hơn.

Nếu chơi khối ru-bic thật mà cứ mãi không quay đúng được các mặt thì biến thành kẻ ngốc, còn trong tổ chức, đấy là những kẻ quá khôn ngoan. Một sự khôn ngoan khốn nạn nhất. Nói khốn nạn vì những kẻ tử tế trong tổ chức đều phải gồng mình để không phạm lỗi, bởi người ta có thể bắt lỗi bất cứ lúc nào, khốn nạn hơn, là lại không biết được sự cố tình đó, nên lại ra sức góp phần để thiết lập trật tự – một trật tự không được mong đợi ở đây. Đồng thời, thì những kẻ ngu dốt, lười biếng khác thì ẩn nấp vào chốn hỗn mang này mà không có nỗi lo bị chỉ mặt để tống ra khỏi tổ chức.

Thông thường, trong một tổ chức có thể liệt kê ra bốn loại người cơ bản thế này:

-          Những kẻ cấp tiến, không chỉ hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn luôn có ý tưởng cải cách, sáng tạo;

-          Những kẻ có trách nhiệm, tức là làm tròn nghĩa vụ của mình;

-          Những kẻ chuyền bóng, nghĩa là chỉ làm cho xong việc, còn thì sẽ tìm cách đá quả bóng sang chân người khác cho bớt trách nhiệm;

-          Những kẻ phá hoại, không làm việc mà chỉ ném đá vào thành quả của cả tổ chức.

Chúng ta có thể tha thứ cho cái xấu, vì có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng chúng ta không thể dung túng cho cái ác. Bất cứ hành vi phá hoại nào, bất kể lý do là gì, đều là cái ác, và chúng ta nhất định phải loại bỏ khỏi tổ chức.

Nhưng còn những kẻ chuyền bóng thì sao? Những kẻ ấy nguy hại thế nào đến tổ chức?
Trong cuốn Key Management Models của nhóm Berenschot (Cuốn này là một cuốn sách rất nên đọc của các ông chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở ViệtNam, vậy mà không hiểu sao chẳng thấy bạn nào hào hứng), có nói đến điểm hạn chế trong doanh nghiệp. Mô hình này hình dung doanh nghiệp như một đoàn hướng đạo sinh cùng kéo một vật nặng, cả đoàn người không thể đi nhanh hơn so với tốc độ của người chậm nhất (chính là điểm hạn chế). Để thúc đẩy doanh nghiệp tiến nhanh hơn, chỉ còn cách đẩy sao cho kẻ lề mề kia đi nhanh hơn mà thôi. Ngoại trừ những kẻ phá hoại, thì những chỗ chậm tiến này sẽ là khâu cần giải quyết nhất.

Một tổ chức quá nhiều những điểm hạn chế không chóng thì chầy cũng sẽ dẫn tới thất bại, mà trước mắt là vận hành kém hiệu quả, quan liêu và chậm tiến. Những người đứng đầu tổ chức chẳng nhẽ không nhận ra điều này sao? Khẳng định luôn rằng có, họ biết rất rõ là đằng khác, vì họ đương nhiên là những kẻ giỏi giang thì mới thành lập được ra cả một tổ chức rồi. Vậy thì vì cớ gì? Nhiều lắm, tỉ như để có cảm giác yên tâm hơn chẳng hạn, với những hạn chế như vậy, sẽ ít có nguy cơ bị cạnh tranh bởi một đối thủ tương lai sau khi học hết được những mánh của tổ chức ban đầu; hoặc là không muốn thừa nhận những kẻ giỏi giang, có chính kiến trong tổ chức, vì những kẻ đó có khả năng đánh thức những kẻ khác, làm mất đi sự bình lặng mà người ta muốn có để yên ổn; hoặc là được ve vuốt bởi những điểm hạn chế thường có tài năng tuyệt vời về kỹ thuật vẫy đuôi. Mà những kẻ cầm đầu lại là những người thích được cù lông vũ vào lòng tự mãn. Còn những kẻ không biết kỹ thuật đó phải vứt bỏ lòng tự trọng, mài bớt cái tôi cá nhân, và không được tỏ ra giỏi giang hơn họ.

Như một mẫu số chung, những kẻ như vậy thường nguyên tắc và sợ trách nhiệm, ghét những kẻ nổi loạn và có ý tưởng mới. Đây cũng là một trong những đặc tính góp phần giết chết sáng tạo, và tư tưởng cấp tiến. Tóm lại, là những kẻ vắt chanh thượng hạng.

Tổ chức ấy giống như cái bộ máy nhà nước đã cũ mèm, cơ chế này không thể nào vận hành nổi, nó thật bại rồi, thất bại hoàn toàn rồi, ngay từ những phút đầu tiên. Mấy chục năm qua kể từ khi thành lập, mà đời sống trí thức vẫn khốn khổ thế này, cả nước như một trại giống thi đua khổng lồ, tất cả đều diễn trên một sân khấu khổng lồ, đủ các trò vè thối hoắc. Ai tính được chi phí kêu gào cho cái phong trào học tập tấm gương ấy tốn bao nhiêu? Hiệu quả của nó là gì, có đáng không? Hay là núi giấy lộn mà giờ đây ít có cơ hội xã hội hóa bằng hình thức gói xôi, bởi các bà gói xôi giờ cũng dùng hộp-xốp-đầy-hóa-chất rồi. Người ta lại thích bỏ chi phí vào tổ chức hò vè, hát xướng, bắn pháo hoa cho mãn nhãn. Trong khi có bao nhiêu trường học, bệnh viện cần cải tạo, xây mới; bao nhiêu người cần có việc làm; bao nhiêu nông dân mất ruộng…

(Các đồng chí lại còn hăng hái làm hồ sơ xin cấp chứng nhận di sản thế giới nữa chứ. Khiếp thật, như cái dải khoai mà đỏ choét cả lên những di sản, chưa kể bao nhiêu trò vè, phong tục, lễ nghi được phong hàm cấp nữa chứ. Rồi… biết đặt chân vào đâu?)

À, à, quên, trả lời cho câu hỏi ở đầu bài về những kẻ nguy hại… hì hì, để đảm bảo cho các tổ chức tiếp tục hoạt động trơn tru, mình ly khai rồi…

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.